
Tôi rất hiếm khi xem phim Việt Nam, chẳng phải do “vọng ngoại” hay gì đó đại loại thế, mà do những phim Việt Nam tôi đã từng xem đầy những hạt sạn. Từ lời thoại nghe khiến liên tưởng đến những câu văn mẫu trong mấy quyển sách dạy người nước ngoài học tiếng Việt – được diễn viên “đọc” bằng nhịp gióng hai, những tình huống hài dễ dãi, gây bực mình hơn là gây cười, đến những chi tiết hời hợt, thiếu logic...
Nói là hiếm bởi thật ra tôi vẫn “âm thầm” xem những bộ phim nghiêm túc – tôi nhấn mạnh nghiêm túc – như gần tôi đã xem ĐCDNC, LT, hai bộ phim được nhiều người khen ngợi hết lời, cả hai bộ phim vẫn không đủ mạnh để thuyết phục tôi có cái nhìn khá hơn về phim Việt Nam.
Tôi đã mang định kiến về phim Việt Nam như thế khi bước vào rạp xem Song Lang****.
Song Lang gợi lại trong tôi những ký ức của Sài Gòn những năm cuối 80 đầu 90* khốn khó. Ngày đó đâu có nhiều phim chiếu rạp, hay nhiều thứ để giải trí, loanh quanh chỉ có tivi, radio... Những đưa trẻ trong xóm tối tối kéo ra đường chơi nhảy dây, tạt lon, chọi thú nhựa... dưới ánh sáng tờ mờ của ngọn đèn đường. Người lớn tụm lại xem phim Hongkong, bất kể đi đâu cũng có thể nghe thấy tiếng chưởng chát chát, giọng lồng tiếng nhừa nhựa, đến buồn cười phát ra từ chiếc tivi jvc 14 inch.
"Anh có tin vào chuyện du hành vượt thời gian hông? Tui tin đó. Người ta có thể vượt thời gian theo ba cách, con người, đồ vật và nơi chốn". Anh kép Linh Phụng (Isaac đóng) đã nói như thế với Dũng Thiên Lôi (Liên Bỉnh Phát). Và tôi cũng tin đó. Song Lang đã đưa tôi ngược thời gian bằng những hình ảnh chắt lọc được chăm chút tỉ mỉ. Không chỉ là cái gam màu của phim, không chỉ là khung cảnh (logo máy may Sinco rất đặc trưng Sài Gòn những năm cũ, những tờ lịch in hình Mộng Vân, Diễm Hương dán trên tường**), mà còn là âm thanh (tiếng loa phóng thanh phát những bài hát cách mạng Biển hát chiều nay, Dáng đứng Bến Tre), là vật dụng (tô mì gõ, bút máy hero, cây bút bi đầu xoắn, game Contra, băng video Xóm Vắng***)...
Và tiếng cải lương... Tôi nhớ những buổi sáng cuối tuần những năm chưa mở cửa, ngồi giặt đồ và nghe cải lương tuồng cổ từ chiếc radio cũ kỹ. Nào là Lưu Kim Đính Giải Giá Thọ Châu, nào Thần Nữ Dâng Ngũ Linh Kỳ, Phụng Nghi Đình... Lâu lâu nổi hứng bắt chước theo giọng của diễn viên, buông câu, ngắt chữ, xuống xề. Tôi nhớ những buổi tối trong tuần, cô dạy Toán dẫn tôi đi xem cải lương. Tôi thấy lại cái không khí chộn rộn trước khi vở diễn bắt đầu hệt như vậy trong Song Lang, những gương mặt khán giả háo hức, những bà má nuôi, chị nuôi mê cải lương cầm lỉnh kỉnh bánh trái đem tặng mấy anh kép chính...
Có nhiều hình ảnh về cải lương trong suốt thời lượng 100 phút của phim, nhưng Song Lang không phải là bộ phim về cải lương. Cải lương chỉ đóng vai trò như một người dẫn truyện. Song Lang như một lát cắt cuộc đời, kể câu chuyện về cuộc sống và con người Sài Gòn một thời chưa xưa lắm. Ở đó người ta dễ dàng bắt gặp những thân phận vì mưu sinh mà có thể làm bất cứ việc gì, như nhân vật đòi nợ mướn Dũng Thiên Lôi, lúc nào cũng ra vẻ lạnh lùng, côn đồ dữ dằn, nhưng thật chất lại tình cảm và thương người, mang đầy tính hảo hớn của người Sài Gòn xưa. Như anh kép Linh Phụng (không hiểu sao tôi lại nhớ đến nghệ sĩ Vũ Linh) của đoàn gánh hát nghèo. Nhìn cách anh phản ứng, không muốn người khác khinh rẻ người nghệ sĩ cải lương cũng đủ thấy anh yêu nghề và tự trọng biết bao. Nó cũng phản ánh phần nào thái độ của một thiểu số người miền ngoài đối với người Sài Gòn nói chung và người nghệ sĩ cải lương nói riêng trong những năm đầy nhạy cảm ấy. (Mở ngoặc, thú thiệt tôi đã mĩm cười và tự hỏi, không biết đạo diễn vô tình hay cố ý khi lồng giọng Bắc - xuất hiện duy nhất trong cảnh ép rượu đầy kẻ cả và xấc xược).
Song Lang hoàn toàn không có những cảnh hài chọc cười nhảm nhí, thế nhưng rạp vẫn vang tiếng cười trước những câu thoại ý nhị, trước những cảnh và tình huống dí dỏm, ví dụ như cảnh nhắc tuồng, một tình huống có thật ngoài đời, được dựng lại trong phim, qua những cú cắt cảnh rất thông minh, khiến người xem phì cười. Hoặc câu thoại của Dũng Thiên Lôi khi chơi game Contra, cũng tạo nên tiếng cười có duyên, không gượng ép.
Song Lang cũng không có cao trào, chỉ có 1 cảnh duy nhất vào cuối phim, thế nhưng vẫn cuốn hút người xem, khiến người xem rưng rưng, khóc cười và day dứt với từng cảnh phim, từng mảnh đời trong phim.
Song Lang có lỗi sai không? Có. Theo chỗ tôi nhớ, thời đó ở sảnh trước rạp cải lương người ta không bán cà phê mà bán kẹo đậu phộng, mía, ổi hấp... hoặc nếu có bán trà đá, cà phê cũng ngồi bằng ghế cóc, ghế gỗ hoặc ghế sắt... Cái ghế có lưng dựa bằng gỗ, đục hay khắc hình cốc cà phê capuchino là của thời nay. Thời đó, khán giả chưa có thói quen vỗ tay mỗi khi nghệ sĩ cải lương buông câu xề, lại càng chưa có thói quen đứng lên vỗ tay khi vãn tuồng. Lại nữa, khán giả xem cải lương xưa giờ phần lớn là nữ, chứ không nhiều nam (chiếm gần nửa rạp). Thời đó, hình như người Sài Gòn ưa nói "đồ xấu xa" hay "đồ mắc dịch", chứ không nói “đồ biến thái”, từ “biến thái” là từ mới của những năm gần đây. Thời đó, người ta không gọi “đại gia” để chỉ mấy người giàu, còn gọi bằng gì thì tôi không nhớ :). Thời đó, hình như người ta cũng không mang bánh kem tặng nghệ sĩ cải lương. Tôi nhớ những lần lấp ló sau cánh gà ở rạp Nhân Dân xem nghệ sĩ, thấy fan hâm mộ, mấy cô, mấy bà sồn sồn mang đồ ăn hay nước, hay trái cây mà thôi.... Thêm chi tiết nữa, vũ đạo của kép Linh Phụng có phần hơi cứng, là kép chính mà vũ đạo cứng thì hơi thiếu hợp lý :)
Nhưng những lỗi sai ấy chỉ rất nhỏ, không là gì so với cái được, cái hay, cái tỉ mỉ của bộ phim. Lâu lắm rồi, mới có 1 bộ phim Việt Nam khiến cho khán giả nhắc nhiều đến như vậy.
Tôi sẽ xúi các bạn đi xem, nhưng không phải để "ủng hộ nền nghệ thuật / phim ảnh nước nhà" (1 câu sáo rỗng điển hình) mà xem để nhớ về những năm tháng đã qua!
Ghi chú:
*: Nhiều người nói phim lấy bối cảnh những năm 1980-1982, tôi thì cho rằng bối cảnh trong phim thuộc những năm cuối 80 - đầu 90. Lý do:
** : 1. Phim Xóm Vắng được công chiếu đầu tiên ở Hồng Kông năm 1987
*: Nhiều người nói phim lấy bối cảnh những năm 1980-1982, tôi thì cho rằng bối cảnh trong phim thuộc những năm cuối 80 - đầu 90. Lý do:
** : 1. Phim Xóm Vắng được công chiếu đầu tiên ở Hồng Kông năm 1987
2. Trò chơi Contra được phát hành năm 1987
Thập niên 80, mọi thứ (phim nước ngoài, trò chơi, đồ điện tử, đồ dùng...) đến Việt Nam cũng phải mất 1 thời gian dài, cho nên 1 khi nó xuất hiện ở kệ băng đĩa hay được dân chơi game truyền tay thì sớm nhất cũng phải vào năm 1987-1988
*** : Nữ hoàng ảnh lịch Diễm My, Diễm Hương, Mộng Vân nổi lên vào năm 1990. Lúc đó, hầu như tất cả các tờ lịch tường đều in hình các nghệ sĩ này. Rồi khi nó được dán lên tường, cũng phải mất 1-2 năm sau.
Thêm nữa, nếu ai có theo dõi hoặc đọc những thông tin/bài viết về cải lương, chắc cũng nhớ, thời hoàng kim của cải lương sau năm 75 diễn ra trong khoảng từ đầu thập niên 80 đến đầu thập niên 90 thi suy yếu khi công nghệ thông tin bùng nổ, với điện ảnh, truyền hình màu, video, CD, karaoke…
****: Khộng biết tác giả, đạo diễn bộ phim có cố tình chơi chữ không khi đặt tên phim là Song Lang, Song Lang vừa mang ý nghĩa 2 người đàn ông, mà cũng vừa là tên gọi của 1 nhạc cụ giữ nhịp của cải lương. Dụng có này có tên gọi là Song loan, hay song lang. Sở dĩ có cái 4* này là vì một vài người bạn của tôi không biết song lang là nhạc cụ :)
21.08.2018
Thêm nữa, nếu ai có theo dõi hoặc đọc những thông tin/bài viết về cải lương, chắc cũng nhớ, thời hoàng kim của cải lương sau năm 75 diễn ra trong khoảng từ đầu thập niên 80 đến đầu thập niên 90 thi suy yếu khi công nghệ thông tin bùng nổ, với điện ảnh, truyền hình màu, video, CD, karaoke…
****: Khộng biết tác giả, đạo diễn bộ phim có cố tình chơi chữ không khi đặt tên phim là Song Lang, Song Lang vừa mang ý nghĩa 2 người đàn ông, mà cũng vừa là tên gọi của 1 nhạc cụ giữ nhịp của cải lương. Dụng có này có tên gọi là Song loan, hay song lang. Sở dĩ có cái 4* này là vì một vài người bạn của tôi không biết song lang là nhạc cụ :)
21.08.2018
No comments:
Post a Comment
Bạn có thể chèn hình ảnh hoặc video youtube lên khung bình luận bằng link trực tiếp