Monday, December 30, 2013

An Affair to Remember

- Terry McKay: What makes life so difficult?
- Nickie Ferrante: People. 

Tối thứ bảy tôi có ý muốn...lôi mấy bộ phim tôi đã từng xem rồi ra xem lại. Trời lạnh lại trong mùa Giáng Sinh nên tôi quyết định xem phim tình cảm có dính đến Giáng Sinh. Có lẽ đọc đến đây bạn tôi sẽ bắt bẻ, trời lạnh thì liên quan gì đến phim tình cảm. Ơ cái vụ trời lạnh và tình cảm có mối quan hệ ít nhiều khắng khít đó nhé. Ờ mà với lại, trong thư viện phim của tôi có đến 90% là phim tình cảm, 10% còn lại là phim hoạt hình, nên phim tình cảm là lựa chọn số nhiều vậy hihihi.

Có vài bộ phim tôi cân nhắc như: The Holidays, Love Actually, While you were sleeping, Serendipity, Four Christmases... (3 phim đầu có trong danh sách 10 bộ phim Giáng Sinh đặc sắc đăng trên VNE). Cuối cùng, tôi xem.. "An affair to remember".

Có lẽ bạn lại kêu: Ủa, gì kỳ vậy. He.he. Cũng không có gì kỳ ở đây. Chẳng là, tự nhiên nghĩ một hồi, tôi muốn xem phim Sleepless in Seattle, và kế nữa tôi nhớ trong phim Sleepless in Seattle, có vài đoạn phim nhắc đến phim An affair to remember với rất nhiều cảm xúc... nên tôi quyết định chọn xem.

“An affair to remember” được trình chiếu vào ngày 11 tháng 7 năm 1957, là bộ phim làm lại từ phim gốc “Love affair” sản xuất năm 1939 bởi cùng một đạo diễn - Leo McCarey. Nó là 1 trong 20 phim tình cảm được nhắc đến nhiều nhất trên mạng, là 1 trong những phim tình cảm hay nhất mọi thời đại (theo Hiệp hội điện ảnh Mỹ) bên cạnh Casablanca, Titanic, Gone with the wind... Còn xét về đánh giá của người xem trên trang IMDb, “An affair to remember” được cho 7.5/10 điểm, so với 7.6 cho Titanic, hay Dear John 6.1, hay Love Story 6.8, và Notting Hill 6.9 …  “An affair to remember” cũng chính là nguồn cảm hứng xuyên suốt bộ phim “Sleepless in Seattle”.

“An affair to remember” kể về câu chuyện tình yêu của 2 nhân vật Nickie Ferrante (Cary Grant), một gã trai ăn chơi khét tiếng, và Terry McKay (Deborah Kerr). Họ gặp và quen nhau trong chuyến hải hành trên tàu SS Constitution đi từ châu Âu sang New York. Tình yêu nảy nở khi Nickie đưa Terry ghé thăm bà của chàng khi con tàu thả neo gần đấy. Thế nhưng, vào thời điểm ấy, cả nàng và chàng đều đang đính hôn với người khác. Khi tàu bắt đầu cặp bến New York, họ quyết định... ai đi đường nấy.... và sẽ gặp lại nhau 6 tháng sau trên tầng cao nhất của tòa nhà Empire State nếu như trong từng ấy thời gian tình cảm giữa họ đủ mạnh, đủ bền, đủ sâu nặng để cả hai có thể tiến xa đến hôn nhân...

6 tháng sau, Nickie đã đến nơi hẹn. Chàng đợi nàng ở đấy, trên tầng cao nhất của tòa nhà cao nhất New York đến tận nửa đêm. Ngoài trời có một cơn bão đi qua. Và nàng thì... không đến. Nàng đã không đến chẳng phải vì không muốn đến, mà vì không thể đến. Nàng bị tai nạn ngay dưới chân tòa tháp, khi đang băng ngang đường đến cuộc hẹn.

Tôi nhớ trong phim Sleepless in Seattle, chị của Sam khi kể cho anh nghe đoạn này đã khóc như mưa. Một vài bài báo thì nói rằng, khi xem phim này, bên cạnh túi bắp rang thường lệ, người ta còn kèm thêm hộp khăn giấy.

Rồi ngày tháng trôi qua.... Chàng mải mê theo đuổi sự nghiệp vẽ tranh mà nàng đã khuyến khích. Nàng trở thành giáo viên dạy nhạc cho những đứa trẻ để thỏa đam mê ca hát, công việc nàng đã từng làm trước khi đính hôn.

Hai người không hề gặp lại nhau. Nàng quá nhạy cảm để có thể cho chàng biết giờ nàng đã không thể đi lại được. Chàng quá cao ngạo để có thể tìm hiểu vì sao nàng đã không đến cuộc hẹn.

Thời gian cứ thể mà bay đi trong vô vọng... Cho đến một hôm, chàng và nàng tình cờ gặp lại nhau trong một buổi biểu diễn bale. Chàng đi cùng vị hôn thê cũ. Nàng cũng vậy, đến cùng vị hôn phu...

Trong mục điểm phim, The Guardian có viết: “ “An affair to remember” đã khơi gợi và thổi bùng lên những nỗi xúc cảm, mặc dù vậy bộ phim không hề bị đẩy đến chỗ quá ủy mị, bi lụy. Trái lại, nó lôi cuốn người xem một cách thông minh bằng một kịch bản với những cao trào, những nút thắt mở đầy tinh tế, đủ để tránh cho bộ phim rơi vào những tình huống ướt át rẻ tiền”

Vào đêm Giáng Sinh, không định trước, chàng bất ngờ ghé thăm nàng, mang theo chiếc khăn voan, món quà mà bà của chàng để lại cho nàng... Để rồi sau đó, chàng nhận ra trong suốt buổi nói chuyện nàng không hề rời khỏi chiếc ghế sofa. Nhận ra rằng, ngón tay nàng không hề đeo nhẫn cưới...

Người ta nói rằng câu cuối phim là câu nói lấy đi nhiều lít nước mắt "If you can paint, I can walk; anything can happen, don't you think?"

Thôi thúc bởi ước muốn bắt chước theo bộ phim này, Annie và Sam (thông qua cậu bé Jonash – con trai của Sam) trong phim Sleepless in Seattle cũng đã hẹn gặp nhau trên đỉnh tòa nhà Empire State.

Buồn cười một chỗ, trong khi đi tìm thông tin về bộ phim, tôi đọc được một câu hỏi, hỏi rằng: “Tại sao lại không có cảnh hôn hít nào trong suốt bộ phim tình cảm như thế?”. Và câu trả lời là: “Vì bị kiểm duyệt, người ta chỉ cho phép những cảnh hôn nhau tối đa trong 3s”. Và rằng: “Việc Nickie và Terry khóc trong vòng tay nhau ở đoạn cuối phim. Hoặc khi cả 2 trao đổi nhau điếu thuốc lúc ở trên tàu là những cảnh đủ gợi tình” hìhì... Thật ra, có 1 cảnh ở cầu thang ngăn cách giữa 2 tầng trên tàu, sau khi bày tỏ tình cảm, chàng và nàng nắm tay nhau đi xuống, trên màn hình lúc này chỉ còn 2 cặp chân đứng gần nhau và người xem toàn quyền có thể tưởng tượng ra cảnh họ đang hôn nhau :) 

Còn đây là 2 bài hát trong số vài bài trong phim mà tôi thích....

Đây là bài hát trong phim  Our love affair

Ce bel amour, qui ne peut mourir,
Sera pour nous un doux souvenir,
Promesse ardente du premier baiser
Qui nous lie, tous deux, pour l'éternité
D'unbel amour toujour grandisant,
Qui défiera les épreuves du temps.
Trouvons la joie, restedans mes bras, 
Que nous vivions un bel amour,
Affaire de couer qu'on n'oublie pas. 

Cũng bài này nhưng được Nat King Cole hát lại




Bài này nữa, tên Tomorrow Land

There's a wonderful place called tomorrow land
And it's only a dream away
And the moment you get to tomorrow land
You'll forget about today.
You'll be walking on clouds,
You'll forget every care,
And your troubles, like bubbles, will vanish in air
Ask me how do you get to tomorrow land
Close you eyes, make a wish and you're there.




29.12.2013

Wednesday, December 25, 2013

Màu Giáng Sinh

Mấy đứa bạn nói “Năm nay màu của Giáng Sinh là màu tím”. Tôi lắc đầu: “Chài, làm gì có vụ đổi màu, họa chăng là mấy công ty và mấy đứa làm quảng cáo bày trò PR cho thương hiệu thôi”. Tụi nó cãi: “Sao thấy ở Vincom trang trí màu tím nè. Trên mạng xã hội cũng thấy người ta kháo nhau “trước kia Giáng Sinh là màu tím””. Tôi cười: “Bị lừa rồi cưng. Cái màu tím ở Vincom là do thằng tã giấy em bé Bobby Fresh nhuộm, còn vụ “trước kia giáng sinh màu tím” tràn lan trên mạng là do thằng Viber làm”. Tụi bạn hỏi: “Vậy chứ màu của Giáng Sinh là màu gì?”.

Màu của giáng sinh là màu gì ư?

Có khá nhiều màu đặc trưng cho mùa Giáng Sinh. Phần lớn màu sắc và ý nghĩa đều bắt nguồn từ phong tục tập quán của các nước châu Âu.

MÀU XANH LÁ

Đầu tiên có thể kể đến là màu xanh lá – màu của cây thông Giáng Sinh, màu của vòng hoa người ta vẫn treo trên cửa, màu của những đồ vật trang trí được dùng để trang hoàng cho ngày lễ hội ở khắp mọi nơi.

Màu xanh đã được dùng làm màu chủ đạo của Giáng Sinh hàng ngàn năm nay. Nó nhắc người ta nhớ rằng, rồi màu xanh ấm áp của mùa Xuân sẽ đến, những giá rét lạnh lùng của mùa Đông không là mãi mãi.

Màu xanh được người La Mã xem là màu của sự may mắn

MÀU ĐỎ

Trong Kinh Thánh ngày xưa, người ta vẽ cây thiên đàng ở vườn địa đàng có hình dạng một cây thông (đó cũng là lý do vì sao người ta trang hoàng cây thông vào ngày Giáng Sinh), trên cây là những quả táo đỏ (nhớ chuyện Adam Eva hihihi).

Người ta cũng cho rằng màu đỏ là màu của những quả dâu đo đỏ nho nhỏ, xem như một biểu trưng cho những giọt máu của Chúa Giêsu khi Ngài bị đóng đinh trên thập tự.

Màu đỏ còn là màu áo choàng của các linh mục. Nhưng không phải màu áo của ông già Noel hihi... Còn vì sao áo của ông già Noel là màu đỏ thì là chuyện khác, nói sau.

MÀU VÀNG (GOLD)

Màu vàng là màu của mặt trời và ánh sáng – hai màu tươi sáng quan trọng giữa mùa đông đen tối. Cả màu đỏ lẫn màu vàng là màu của ngọn lửa ấm áp sưởi ấm muôn loài xua tan giá rét.

Vàng cũng là màu của những món quà do một trong những nhà thông thái dâng tặng Chúa Hài Đồng. Đó cũng là màu của ngôi sao dẫn đường.

MÀU TRẮNG

Màu trắng là màu tượng trưng cho sự tinh khiết và thanh bình của văn hóa phương Tây. Những hạt tuyết mùa đông mang một màu trắng tinh.

Màu trắng cũng là màu của bánh thánh mà tín đồ nhận lại sau mỗi Thánh Lễ, như được hưởng một phần "mình Thánh Chúa" để tưởng nhớ cái chết vì nhân loại của Chúa Giêsu (“Bánh Ta sẽ ban, chính là Thịt Ta, để cho thế gian được sống”)

Trong hầu hết các nhà thờ trong suốt dịp lễ Giáng Sinh bàn thờ Chúa được phủ khăn trắng.

MÀU XANH DƯƠNG

Màu xanh dương là biểu trưng của Đức Mẹ Đồng Trinh Mary. Thời Trung cổ, trang phục xanh chỉ được dùng cho hoàng tộc và các gia đình quý tộc. Đức Mẹ Đồng Trinh thường được tô màu xanh để thể hiện sự quan trọng của Bà.

Màu xanh dương còn là màu của bầu trời và thiên đường.

Thế còn MÀU TÍM thì sao? Màu tím là màu chủ đạo của mùa Vọng. Mùa Vọng diễn ra trong khoảng thời gian 4 tuần trước lễ Giáng Sinh, bắt đầu từ ngày Chủ nhật thứ tư trước Giáng sinh và chấm dứt vào đêm trước lễ Giáng sinh (đêm 24 tháng 12, lễ vọng Giáng sinh). Vào khoảng thời gian này, bàn thờ Chúa trong phần lớn nhà thờ được phủ khăn tím.

MÀU ÁO CỦA ÔNG GIÀ NOEL


Phía trên tôi có nhắc về màu đỏ của chiếc áo ông già Noel. Bạn tin hay không thì tùy, nhưng chiếc áo màu đỏ mà ông già Noel vẫn mặc như hiện nay ta vẫn thấy không bắt nguồn từ một truyền thuyết nào cả mà từ một chiến dịch quảng cáo của công ty Coca-Cola

Trước đó rất lâu, ông già Noel thường xuất hiện trong bộ quần áo đủ các thể loại màu sắc: xanh lá, tím, xanh dương nhạt, xanh biển, nâu hay đỏ. Thậm chí, người ta còn “cho” ông Noel mặc một bộ quần đủ sắc màu với quần màu xanh dương, áo ghi-lê màu vàng và áo khoác màu đỏ. Trong vài bức họa, ông mặc cả màu nâu, đen hoặc áo lông trắng.

Mọi việc thay đổi khi vào năm 1930, nhãn hàng Coca-Cola quyết định sử dụng hình ảnh ông già Noel trong chiến dịch quảng cáo mùa đông của mình. Thật ra, Coca-Cola đã sử dụng hình ảnh Santa Claus để quảng cáo cho sản phẩm nước giải khát của công ty họ từ những năm 1920. Nhưng đến năm 1930, khi họa sĩ người Mỹ Haddon Sundblom không rập khuôn theo hình ảnh những người lùn của những năm trước mà vẽ một ông già Noel trong dáng dấp con người trong bộ râu trắng, chiếc áo đỏ và thắt lưng đen.

Dễ thấy hình ảnh một ông già Noel vui tươi ấm áp  và độ lượng xuất hiện trong giai đoạn khủng hoảng trì trệ của những năm 30 giống như một làn gió mới thổi bùng lên những hy vọng, lạc quan mà người ta cần để vực dậy. Do vậy hình ảnh đó được đón nhận một cách mạnh mẽ. Cũng phải thừa nhận, chính nhờ vào sức lan tỏa sâu rộng của báo chí mà hình ảnh ông già Noel trở nên phổ biến cho đến tận bây giờ.

(Tổng hợp từ internet)

Tuesday, December 24, 2013

"Cặp Kè Ăn Muối Mè"

Bài đặc biệt không nằm trong mục lục, dành riêng tặng K. & P.



Ngày còn nhỏ hay chơi trò “cặp kè ăn muối mè” với bạn. Mấy đứa quàng vai nhau vừa đi vừa đọc “cặp kè ăn muối mè ngồi xuống đất”. Khi miệng vừa đọc dứt câu “ngồi xuống đất” thì cả đám cũng phải ngồi thụp xuống liền. Nhiều khi ngồi không đồng bộ, đứa làm trước đứa làm sau, đứa ngồi, đứa chưa kịp ngồi còn đứng lom khom, bị mất thăng bằng, ngã nghiêng, có khi lăn quay nằm dài ra cả đất, ngoác miệng cười. Chỉ mỗi một trò đơn giản vậy mà chơi mãi không biết chán.

Giờ ngẫm lại thấy trò chơi trẻ con đấy ấy thế mà hay và ý nghĩa. Bạn bè cặp vai nhau, nương đỡ nhau, giữ cho nhau đừng ngã. Hiểu ý nhau, đồng lòng, nhịp nhàng làm 1 việc...

Lớn lên thôi không chơi trò con nít nữa, nhưng cặp kè thì vẫn còn. Cái thời còn đi học hay cặp kè – nghĩa đen lẫn nghĩa bóng – với một đứa bạn. Khăng khít đến đỗi thầy cô bạn bè tự hiểu và bảo “hễ thấy đứa này là biết đứa kia quanh quẩn đâu đó khỏi cần tìm”. Sau này có lần nói chuyện, nhắc lại ngày xưa, hỏi bạn: “Sao ngày đó chúng mình thân nhau đến vậy?”. Đến giờ cũng không có câu trả lời xác đáng (mà đôi khi có những việc đâu cần phải tìm cho ra câu trả lời).

Rồi bạn định cư ở một nước xa xôi. Không còn những giây phút có thể cùng ai đó im lặng ngồi với nhau hàng giờ mà không cần nói năng...

Rồi vào đời. Va chạm. Lung lay lẫn mất đi niềm tin ở vài thứ. Thỉnh thoảng ngồi nhìn lại cái mốc 10 năm, giật mình, vì trong từng ấy năm cái vòng tròn bè bạn không rộng ra nhiều lắm. Vẫn từng ấy gương mặt, từng ấy cái tên, từng ấy sự hiểu nhau an toàn.

Hôm qua lang thang cùng bạn giữa một đêm mùa đông ở một nơi không lạ không quen. Nắm tay nhau cùng sang đường. Quàng vai nhau thủ thỉ nói xấu người khác và cùng cười khúc khích. Bỗng nhiên thấy ấm lòng với sự tin cậy, hiểu ý, sẻ chia. Sực nhớ ra đã lâu lắm rồi không hề khoác vai, cặp kè một ai cả. Đến cái chạm tay thôi cũng ái ngại ngập ngừng bởi những hoài nghi... Rồi bâng khuâng nghĩ về những tháng ngày hồn nhiên vô tư lự nay đã lắc lơ...

24.12.2013

Wednesday, December 11, 2013

Từ của năm

Từ điển tiếng Anh Oxford chọn từ "selfie", tức 'chụp hình tự sướng', làm từ phổ biến nhất trong năm 2013. "Selfie" theo từ điển Oxford là "bức ảnh được tự chụp, thí dụ bằng điện thoại thông minh hay webcam và tải lên trên mạng xã hội".

Để được bình chọn là từ của năm, “selfie” đã đánh bại từ các “twerk” (kiểu nhảy kích dục do nữ ca sĩ trẻ Miley Cyrus thường biểu diễn), “showromming” (ra cửa hàng khảo giá sản phẩm rồi lên mạng mua với giá rẻ hơn) hay “bitcoin” (đồng tiền ảo)…

Các nghiên cứu cho thấy tần số sử dụng từ này trong tiếng Anh đã tăng 17.000% trong riêng năm ngoái.

Thông thường Oxford chọn từ của năm cho Mỹ và Anh riêng, nhưng từ “selfie” được đánh giá là mang tính phổ cập toàn cầu.

"Selfie" lần đầu tiên xuất hiện từ khoảng năm 2002 khi được sử dụng trên một diễn đàn mạng ở Australia, theo từ điển Oxford. Một người chụp hình các vết thương trên mặt mà ông ta bị khi vấp ngã và đăng trên mạng. Ông ta xin lỗi vì bức ảnh bị nhòe, nói rằng không phải ông ta say mà bởi đây là một bức hình tự chụp (selfie).

Năm nay, "selfie" đã nổ lên như một từ thông dụng trong thế giới nói tiếng Anh, một phần cũng nhờ những bức hình như Đức Giáo hoàng tự chụp ảnh cùng một đám thanh thiếu niên.

Judy Pearsall, trưởng ban biên tập của từ điển Oxford, nói: "Các website xã hội đã giúp làm từ này trở nên thông dụng hơn, từ khóa hashtag #selfie xuất hiện trên mạng chia sẻ hình ảnh Flickr từ năm 2004, nhưng cho tới năm 2012 từ này mới được dùng nhiều và dùng trên các phương tiện truyền thông chính thống".

"Selfie" được bổ sung vào từ điển Oxford trên mạng hồi tháng Tám, nhưng chưa có trong bản in tuy đang được cân nhắc.

(Tổng hợp)

(3 vị nguyên thủ quốc gia đang "selfie" :) )

Tuesday, December 10, 2013

Đâu phải cái gì rơi người ta cũng giựt!

Bạn chép miệng: Dạo này đạo đức và nhân cách xuống cấp phát sợ. Bây giờ không còn chuyện nhặt được của rơi mang trả người bị mất nữa mà là giựt của rơi mặc kệ người làm rớt.

Tôi kêu: Làm gì mà bi quan đến vậy. Vụ cướp bia chỉ là 1 trường hợp cá biệt thôi mà.

Bạn nói: Không dám, thử gõ chữ "hôi của" trên google mà xem. Vài giây ra cả triệu kết quả.

Tôi nói: Tại đám đông chỉ chú ý đến tin xấu, chứ nhiều việc tốt báo đăng mà đâu ai để ý.

Bạn hất hàm: Ví dụ?

Tôi đáp: Này nhé, tháng 8 năm nay có 1 chiếc xe tải vấp ổ gà lật ngang trên đường vào giờ cao điểm, toàn bộ hàng hóa rơi ra ngoài, nhưng không hề xảy ra việc hôi của hay cướp của, mà trái lại, hiện trường được người dân giữ nguyên cho đến khi công an đến chụp hình đo đạc giải quyết.

Bạn gật gù: "Ồ, hay quá. Vụ này lẽ ra phải nhân điển hình"

Tôi nhướn mày: "Đấy thấy chưa. Đã bảo mà, còn nhiều người tốt lắm, mà báo đăng đâu ai thèm để ý"

Bạn hỏi tiếp: "Tò mò thôi, thế xe tải ấy chở gì?"

Tôi: "Chở rác"

10.12.2013

Thursday, December 5, 2013

Nói về cái sự ghét!

Người khác hay khuyên tui (và khuyên nhau) đã là người thì sống phải có chính kiến, yêu ghét phân minh. Tui thấy lời khuyên này hay, quá hay nữa là đằng khác... Nhưng mà từ cái hay của lời khuyên đến cái hay của hành động nó cách nhau xa. Nhiều khi phải tốn mấy cuốc xe ôm, mấy lần xe buýt, mấy chuyến máy bay, mấy chai keo 520... cố lắm may ra mới khớp được hành động và lời nói với nhau. Việc này cũng không có chi lạ, bởi trong đời thường, lời nói hiếm khi nào đi đôi với việc làm. Không tin, gác chân lên trán mà nghĩ xem!

Một ví dụ nho nhỏ mà tui để ý thấy là mỗi lần, khi tôi nói tôi thích điều gì đó hay thích ai đó (tui chỉ muốn nói đến những thứ thích nghiêm túc và hợp lý), thì hầu như trong phần lớn trường hợp hiếm ai hỏi lại tôi vì sao. Đặc biệt, không ai thèm xúi hay cản tui "thôi bỏ đi đừng thích". Ngược lại, mọi người thường gật gù, tán đồng không phê bình, phê phán, phê linh tinh...

Thế mà... hễ tui nói tui không thích (hay ghét) ai hoặc điều gì (tui chỉ đề cập đến những thứ ghét một cách chính đáng), thì lập tức một rừng người tư vấn lẫn truy vấn "vì sao ghét?". Dĩ nhiên là sau câu hỏi đó, tui phải vận dụng mọi lý lẽ, tốn mấy "em eo (ml)" nước bọt để giải thích, để phân bua, để bảo vệ ý kiến của mình...

Rồi nữa, tiếp theo sau câu hỏi lý do, theo tôi thấy, việc này không chỉ vi phạm nghiêm trọng và mâu thuẫn cực kỳ với lời khuyên “yêu ghét phân minh”, mà còn làm tui ức chế nữa là, có hàng tỉ tỉ người (ờ, đó là tui nói phóng phóng lên vậy) - nghe tui giải thích có, chưa nghe tui giải thích có, không cần nghe tui giải thích cũng có luôn - lập tức khuyên tui: “Thôi bỏ đi đừng ghét. Ghét làm chi người ấy / chuyện ấy cho nặng lòng”. Có người còn một cách từ bi hỉ mũi – ý quên – hỉ xả mà rằng: “Thôi hãy tập thứ tha. Bỏ qua tất cả. Đừng mang chán ghét vào lòng”.

Lạ không? Theo tui là quá lạ. Quá mâu thuẫn. Quá vô lý. Tui là tui cho rằng, trong vũ trụ, để vạn vật tồn tại thì âm dương phải trung hòa. Còn con người ta phàm muốn cân bằng thì phải có yêu có ghét. Ai đó đáng bị ghét, xứng đáng được ghét... thế mà khi không lại kêu thôi đừng, thử hỏi cảm xúc có bị dồn nén, và ức chế không? Tui là tui thấy con người mà chỉ có yêu không có ghét coi như lệch lạc về mặt cảm xúc (ặc ặc...)

Nói chứ, nói nghiêm túc, hôm trước một vài bạn có bàn về bản chất thật sự của con người trong một status của tôi trên FB. Tôi nghĩ, và cũng có nói, con người sinh ra là trung tính. Sự yêu ghét phát sinh do tác động của môi trường và hoàn cảnh. Yêu và ghét là cảm xúc chính đáng của một con người. Người ta nên kiểm soát cảm xúc tiêu cực chứ đừng loại bỏ.

5.12.2013

Saturday, November 30, 2013

Vì Sao Là Gà Tây?

Vào ngày Lễ Tạ Ơn người ta thường hay ăn gà tây. Lý do vì sao gà tây lại được “vinh hạnh ghi danh” trong thực đơn của nhiều nhà vào những ngày cuối tháng 11 này dường như vẫn chưa thật sự được giải thích thỏa đáng.

Theo một số tài liệu lịch sử còn ghi lại, vào tháng 10 năm 1621, những người dân ở Plimoth (hay còn được đánh vần là Plymouth) đã tổ chức một lễ hội ăn mừng thu hoạch, đồng thời để tỏ lòng biết ơn một mùa vụ bội thu đã cung cấp lương thực dồi dào, giúp con người tiếp tục duy trì cuộc sống... với sự tham dự của 50 người Anh thực dân và khoảng 90 người Anh-điêng (người Mỹ bản địa Wampanoag mà bây giờ là tiểu bang Massachusetts).  Bữa ăn tối này, sau đó được xem là bữa tiệc Tạ Ơn đầu tiên trong lịch sử.

Trong buổi tiệc đấy, những người đến dự mang theo nhiều thực phẩm, có thể kể đến như ngỗng, gà tây và vài động vật hoang dã như hươu, nai... 

Thời điểm ban đầu, người ta thường sử dụng ngỗng nhiều hơn là gà tây. Tuy nhiên về sau, người ta nhận thấy, ngoài việc ngỗng rất khó nuôi, một phần nữa còn do gà tây rẻ hơn ngỗng. Giá cả là một yếu tố khá quan trọng vào những ngày này vì người ta phải chuẩn bị nhiều đồ ăn cho một bữa ăn đêm Giáng sinh, đôi khi là nhiều hơn một bữa, và gà tây là món ăn hợp lí nhất để ăn vào những ngày đầu đông bởi lẽ gà tây được sinh ra vào mùa xuân, được nuôi trong khoảng 7 tháng, và đến thời điểm lễ Tạ Ơn chúng đạt được trọng lượng lý tưởng khoảng 4,5kg.

Vào năm 1863, khi Tổng thống Mỹ Lincoln công bố ngày lễ Tạ ơn sẽ trở thành một ngày lễ quốc tế, thì gà tây bắt đầu được sử dụng như một món ăn chính vào ngày lễ Tạ ơn.

Một câu chuyện khác kể rằng, vào thế kỷ 16, trong buổi tiệc ăn mừng cuối vụ thu hoạch, nữ hoàng Elizabeth của Anh nhận được tin đoàn chiến thuyền của quân Tây Ban Nha bị đắm khi trên đường tấn công nước Anh. Để tỏ lòng biết ơn Chúa và ăn mừng tin tốt lành, nữ hoàng đã cho gọi thêm món ngỗng quay.

Cũng phải giải thích việc vì sao đó là ngỗng mà không phải là gà tây, bởi trước năm 1620, người Anh chưa hề biết đến gà tây, chỉ đến khi những đoàn di dân từ Anh sang Mỹ, họ mới biết đến gà tây. Nhà thám hiểm Sebastian Cabot được cho rằng là người đã đem gà Tây về nước Anh. Cũng có người nói rằng: một nhà buôn tên là William Strickland là người mang gà tây về Anh, ông đã nhập khẩu 6 chú gà tây đến Anh vào năm 1526 từ nước Mỹ. Tuy khí hậu ở Anh không thích hợp với loại gia cầm này nhưng với những yếu tố như đã nói ở trên, gà Tây bắt đầu trở thành món ăn phổ biến của người Anh kể từ thế kỉ 16.

Gà tây đã trở thành món ăn rất nổi tiếng, đặc biệt khi nó được nhà văn Anh Charles Dickens đưa vào tác phẩm kinh điển A Christmas Carol của ông được xuất bản năm 1843, tác phẩm được yêu thích trên khắp nước Mỹ và nhiều quốc gia trên thế giới.

Một vài con số lý thú: Theo thông tin đọc được trên trang National Geographic, ước tính có khoảng 254 triệu con gà tây được nuôi và giết mổ tại Mỹ trong năm 2012, tăng 2% so với năm 2011.Khoảng 46 triệu con gà tây được làm thịt trong ngày Lễ Tạ ơn hay người dân Mỹ đã tiêu thụ khoảng 334 triệu kg thịt gà tây trong ngày đặc biệt này.  ( Con số trên do Cục thống kê Nông nghiệp Quốc gia Mỹ công bố).

30.11.2013

(Dịch và tổng hợp từ nhiều nguồn)

Sunday, November 3, 2013

Con lắc

Ngày đó, mình có một người bạn khá thân. Hai đứa có cùng vài sở thích, trong đó có sở thích chơi con lắc. Ngày đó vừa mới ra trường, chân ướt, chân ráo đi làm, 2 đứa “vô sản” như nhau. Con lắc lúc ấy là thứ xa xỉ so với những chi tiêu thiết thực như mua sách vở, tiền học...  từ khoản lương tập sự khiêm tốn của cả 2. Dạo đấy còn trẻ nên trí nhớ tụi mình còn dai, mỗi lần làm bài (bạn và mình đều học 2 trường), cần nghiên cứu và đọc thêm tài liệu, thư viện không có, sách ngoại văn đắt tiền, bạn lại chở mình mò ra nhà sách, đọc sách “cọp”... rồi tranh thủ chơi “cọp” con lắc.

Đến sinh nhật bạn, mình nghĩ mãi, cuối cùng quyết định bấm bụng, ngắt 1 khoản lương, nâng lên, đặt xuống, "tha" về con lắc. Bạn nhận quà, mắt và mặt sáng bừng. Mình thấy cũng vui lây. Hôm ấy, bọn mình chơi con lắc thoải mái. Không sợ bị ai bắt gặp liếc nguýt. Không phải rụt rè, ngại ngần nhìn trước, ngó sau. Thật tình, cũng chẳng biết có phải do con lắc đã thuộc quyền sở hữu của 2 đứa rồi hay sao mà ngay cả tiếng lách cách chạm nhau của những viên bi, bạn và mình nghe cũng thấy hay hơn, êm tai hơn.

Vài ngày sau, bạn chở mình đi ăn sinh nhật... muộn. Cuối buổi bạn ngần ngừ, rồi bảo với mình "hay là mình bán lại con lắc". Nghe bạn hỏi, mình im lặng, rồi hỏi lại, hơi giận "vì sao, không còn thích nữa hả". Bạn ngập ngừng "nó mắc quá, chỉ để vui thôi thì phí lắm". Ngày đó, mình suy nghĩ rất cạn, lại lúc nào cũng được bạn bè xung quanh chiều chuộng, nên cứ muốn mọi việc phải theo ý, hễ gặp chuyện trái lòng là mình không vui ra mặt nên mình lẫy mà đáp "sao cũng được vì con lắc giờ là của bạn, mình chẳng có quyền". (Giờ nghĩ lại mình thấy mình trẻ con vô cùng)

Từ đó đến lúc bạn chở mình về nhà, cả 2 đứa giữ im lặng suốt. Hôm sau thì chính thức giận nhau. Không thèm nói chuyện. Chưa bao giờ 2 đứa giận nhau lâu đến như vậy. Ấm ức về nhau nhưng cục tự ái lại to tổ chảng nên chẳng ai thèm lên tiếng giải hòa hay làm lành.

Một thời gian dài... Có lẽ không thể thiếu nhau lâu hơn nữa nên cả hai nói chuyện lại. Cũng chẳng nhớ ai dẹp cái tôi, bắt chuyện trước. Cả 2 lại thân như xưa. Lại tiếp tục chia sẻ sở thích cùng nhau, duy có sở thích chơi con lắc là không ai nhắc đến.

Hằng ngày bạn lại lọc cọc chở mình đi làm, lọc cọc đón mình về. Ríu rít kể đủ thứ chuyện cho mình nhau.

Bẵng đi một thời gian, bạn xin được học bổng du học. Trước hôm bay, ngồi với nhau, bạn mang ra con lắc. Không phải con lắc ngày xưa... Mình biết, nhưng giữ trong lòng không nói ra.

Bạn và mình, lại như xưa, thay phiên lấy tay kéo thả viên bi. Im lặng lắng nghe tiếng lạch cạch lạch cạch chạm nhau của những viên bi.

Khi đến lượt mình thả bi, đột nhiên bạn giữ tay mình lại, hỏi: “Đố H. nhờ đâu mà có tiếng lanh canh?”. Mình cười, đáp rất bài bản, y như đọc ra nguyên lý từ sách vở: “Vậy cũng đố, do lực ngón tay tác động lên viên bi đầu tiên rồi lan truyền sang những viên bi kế tiếp”. Bạn lắc đầu: “Sai. Do những viên bi chạm nhau”. Mình cãi: “Nếu không có lực ngón tay thì làm sao tạo ra chuyển động để các viên bi chạm được nhau?”. Bạn lắc đầu khăng khăng: "Không. Chính là do những viên bi tạo nên âm thanh lanh canh"

Ngày còn trẻ, mình hiếu thắng lắm. Mình dẩu môi, định gân cổ bảo vệ ý kiến... Bỗng, mình thoáng thấy nét mặt trầm tư của bạn, mình chợt giật mình, vội giảng hòa: “Ừa, nghĩ như D. cũng đúng”. Bạn khẽ cười, bảo: “H. có thấy 2 đứa mình giống 2 viên bi của con lắc không...”

Từ bấy đến nay, từ lần gặp bạn sau cùng, trước khi bạn lập gia đình rồi định cư hẳn ở nước ngoài, vòng tròn bè bạn của mình rộng dần ra. Có những mối quan hệ, những va chạm... gãy đổ... khiến lòng mình lanh canh. Những lúc như thế mình nhớ bạn vô cùng... Năm tháng trôi... Mình thay đổi nhiều... Nhưng những điều bạn nói, niềm tin và ví von của bạn về cái chạm nhau của những viên bi mình vẫn luôn nhớ, luôn suy nghĩ về nó. “Bạn bè như những viên bi trong con lắc...”.

Bạn đúng và mình cũng không sai khi nói về con lắc. Chính những viên bi đã tạo nên âm thanh lanh canh, lách cách. Nhưng cái tiếng ấy nhẹ nhàng hay chát chúa, trong trẻo hay lục cục còn tùy vào cách ta buông viên bi mạnh hay nhẹ, dịu dàng hay mạnh bạo... Có những cú buông, những cái chạm, đôi khi không lường được, sẽ bứt tung sợi dây mỏng manh kết nối... Những viên bi văng xa... chẳng còn cơ hội để chạm vào nhau tạo nên cái thanh âm vui tai trong veo khiến bạn và mình mê mẩn!

19.08.2013

Wednesday, October 30, 2013

Cầu sông Kwai - Di sản của mất mát

CHẠM VÀO CÂY CẦU HUYỀN THOẠI

Rời nghĩa trang, chúng tôi đi sang nơi cây cầu huyền thoại bắc ngang dòng sông.

Nhìn từ xa, chiếc cầu là một khối đen gồ ghề, cũ kỹ. Nếu ai đó đã từng xem bộ phim “Cầu sông Kwai” và nhớ kỹ, có lẽ sẽ thắc mắc “xem ra chiếc cầu không giống lắm”. Đúng vậy, trong bộ phim “Cầu sông Kwai” các cảnh được quay tại Sri Lanka và chiếc cầu được tái hiện bằng gỗ. Cầu thật được xây dựng bằng thép đen vận chuyển từ Java (Indonesia?). Những trụ cầu được xây bằng xi-măng mà giờ đây thời gian đã phủ lên chúng một lớp rêu phong.

Cầu sông Kwai vốn là chiếc cầu dành cho xe lửa, nó là một phần của tuyến đường sắt nối liền Bangkok với Yangoon nhằm tạo con đường huyết mạch để đánh chiếm Myanmar và Ấn Độ.

Theo tài liệu của quân đội Nhật, tuyến đường này được xây dựng cùng lúc từ 2 phía – Miến Điện và Thái Lan. Thoạt tiên, những kỹ sư thiết kế Nhật Bản đã tính toán thời gian xây dựng toàn bộ 415 km đường sắt này phải mất 5 năm, dự kiến hoàn thành vào tháng 8 năm 1943. Trong giai đoạn đầu, tổng cộng khoảng 12,000 binh lính được trưng dụng xây dựng tuyến đường sắt này gồm các binh sĩ của trung đoàn 5 đóng ở Thanbyuzayat (Miến Điện), và trung đoàn 9 đóng ở Kanchanaburi (Thái Lan). Nhưng sức ép chiến tranh đã khiến các chỉ huy quân Nhật ra lệnh rút ngắn thời gian ấy xuống còn 16 tháng. Và vào tháng 6 năm 1942, quân đội Nhật đã đưa đưa đến Miến Điện và Thái Lan khoảng 30,000 tù binh Anh, 18,000 tù binh Hà Lan, 13,000 tù binh Úc và 700 tù binh Mỹ, cùng hơn 61,700 dân phu từ các nước châu Á (bao gồm Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan, Malaysia và Singapore) (*).

Người ta đã gọi đây là “Con đường tử thần” (Death Railway) có lẽ bởi sự khắc nghiệt, cũng có lẽ bởi quá nhiều chết chóc nơi mỗi một thanh tà vẹt đều đánh đổi bằng nhiều mạng sống. “Con đường tử thần” được xem là chứng tích của một trong những tội ác chiến tranh hết sức tàn bạo của thế kỷ 20. Là câu chuyện về địa ngục trần gian, nơi cái chết chính là sự giải thoát.

Hôm nay, giữa trưa của 70 năm sau, tôi đã chạm được vào chiếc cầu, rờ vào vết đạn còn hằn lại nơi thành cầu, đếm bước của mình trên 617 thanh tà vẹt nhuốm màu năm tháng.

Cầu sông Kwai giờ đây là 1 trong những điểm du lịch nổi tiếng của Thái Lan. Mặc cho nắng trưa như thiêu đốt, mặc những thanh cầu tỏa hơi nóng hực, du khách đến tham quan vẫn đông nườm nượp, tưởng như chẳng bao giờ dứt.

Trái ngược với không khí tĩnh lặng ở nghĩa trang, khách tham quan ở khu vực cầu sông Kwai nhộn nhịp, cười đùa, chụp ảnh làm dáng trên cầu.

Ở một góc cầu, một nghệ sĩ violon đường phố đang biểu diễn bài gì đấy. Khi tôi đi ngang qua anh ngừng kéo đàn, vẫy chào và hỏi tôi có phải người Việt Nam không khi thấy nhóm chúng tôi mặc áo bà ba, đội nón lá. Tôi gật đầu. Anh bảo tôi dừng lại, anh sẽ chơi tặng tôi một bài. Bất giác, tôi nhớ đến nhóm những người khuyết tật ngồi ở cổng ra vào đền Tà Phrom, mỗi lần thấy người Việt Nam đi ngang, họ chơi bài “Như có Bác Hồ...”, nên tôi cĩmg có ý chờ giai điệu vốn đã rất quen ấy vang lên. Nhưng... không như phỏng đoán của tôi, anh suy nghĩ một hồi rồi đàn bài “Ánh trăng hiểu lòng tôi” khiến tôi phải bật cười. Anh cũng cười chữa thẹn bảo: “Tôi biết, nhưng tôi không nhớ ra bài hát Việt Nam nào cả”. Tôi cười nói: “Bài hát ấy của Trung Quốc. Sao anh không kéo đàn bài Cầu sông Kwai?”. Anh cười gật đầu: “Ừ, thế nhé”.

Tiếng violin – đôi lúc bị sai nhịp - có vẻ hơi lạc lõng giữa trời nắng nóng, giữa những ồn ào, nhưng nhắc nhớ một giai đoạn lịch sử đau thương, đọa đầy nhưng cũng không kém phần hào hùng của những tù binh chiến tranh, những người đã xây dựng nên chiếc cầu huyền thoại này.

Tạm biệt người nghệ sĩ violin, chúng tôi đi lần về đoạn cuối của cầu. Càng đi về phía xa, cây cối càng um tùm, tiếng ồn ào cũng dần dần rơi lại phía sau. Không biết có phải tại trời tắt nắng, tại thưa vắng bóng người, hay tại tiếng chim kêu chiều mà sao bỗng dưng tôi thấy có điều gì đó buồn buồn. Tôi nghĩ về sự hy sinh của những người trẻ tuổi nơi nghĩa trang. 617 thanh cầu. Biết bao máu, mồ hôi, nước mắt và hơn tất cả là sự sống...

Có tiếng còi tàu ngân dài từ xa... Chuyến tàu hàng ngày lại qua, chở những người khách du lịch nhiều quốc tịch đến để tham quan, đến để trải nghiệm, đến để nhìn lại một quá khứ mất mát...

Ở đầu kia của cầu, pho tượng Phật Quan Âm bên bờ đang lặng lẽ đứng nhìn dòng người trên cây cầu bắc qua sông...

“Behold. All things are become new” – Hãy tin mọi thứ rồi sẽ hồi sinh – Ai đó đã khắc câu này trên mộ bia của người binh nhì người Anh 22 tuổi!

28.07.2013 

(*) Tổng hợp từ internet
(**) Chúng tôi đã đếm được
 





Có ai nhớ cảnh này không?






Monday, October 21, 2013

Cầu sông Kwai - Đừng để nơi ấy lụi tàn

Trước khi tôi lên đường đi chơi, một vài người bạn hỏi đi đâu, khi nghe tôi đáp “Đi xem cầu sông Kwai”, bạn tròn xoe mắt ngạc nhiên “Cầu sông Kwai ở đâu? Có gì vui, có gì hay mà phải đến đó?”.

Tôi biết đến “cầu sông Kwai” nhờ bộ phim cùng tên, chiếu trên tivi, hình như vào những năm 90. Chuyện phim kể về quá trình xây dựng tuyến đường sắt nối liền Miến Điện và Thái Lan cũng như cuộc sống và điều kiện làm việc khắc nghiệt của tù binh trong Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai. Bộ phim đã để lại ấn tượng sâu sắc trong tôi. Cũng không ngờ có ngày nơi ấy – cầu sông Kwai, lại nằm trong điểm đến của tôi trên bước đường “đi đây đó”. Hôm các chị Hội BBT đưa ra lịch trình, đọc trong danh sách có “cầu sông Kwai” là tôi thấy thích ngay, thấy chuyến đi đáng để tham gia.

Bình lặng Nghĩa trang chiến tranh Kanchanaburi






Chúng tôi đến khu vực tỉnh Kanchanaburi, nơi có dòng sông Kwai và chiếc cầu huyền thoại vào giữa trưa. Buổi trưa hè của một nước khu vực Đông Nam Á đầy nắng, oi nồng, hiếm hoi gió.


Điểm dừng chân đầu tiên của chúng tôi là Nghĩa trang chiến tranh Kanchanaburi (Kanchanaburi War Cemetery). Nếu chỉ lướt qua bên ngoài, không ghé vào bên trong, chắc hẳn có người sẽ lầm tưởng đây là một góc khuôn viên nhà thờ nào đó, bởi sự yên tĩnh tuy nghiêm trang nhưng không kém phần thân thiện.

Cửa vào nghĩa trang là một chiếc cổng vòm màu trắng, một hàng cây leo xanh mướt, vừa ngang tầm ngực thay cho tường rào, bên trong là một mảng cỏ xanh rì được chăm sóc cẩn thận. Trên lối đi chính là một chiếc trụ thánh giá màu trắng. Những ngôi mộ xếp hàng thẳng tắp hai bên.

Mọi thứ ở nơi đây toát lên vẻ bình lặng, giản dị và sạch sẽ, tuyệt nhiên không hề mang màu chết chóc u ám hay một sự phô trương bề thế. Cả ngàn (hay chục ngàn) mộ bia bằng đá đen ghi họ tên, quốc tịch, chức vụ, ngày mất... của từng người nằm bên dưới, đang xen cùng những cụm hoa tươi. Hơn 5,000 tù binh người Úc, khoảng 1,800 tù binh người Hà Lan, cùng với hơn 300 tù binh chiến tranh mang các quốc tịch khác nhau và 11 người lính Ấn Độ* (trong số khoảng 15,000 tù nhân chiến tranh và 100,000 dân thường) - những người đã nằm xuống cho việc xây dựng và hoàn thành tuyến đường sắt nối liền Siam và Burma (tên gọi cũ của Thái Lan và Myanmar) - được tưởng niệm tại nghĩa trang này.

Tôi đi dọc theo từng hàng mộ bia. Ở nơi đây không có chỗ cho bất kỳ sự phân biệt chủng tộc, quốc gia hay màu da, cấp bậc, tôn giáo... Bên dưới mỗi tấm bia hình chữ nhật nhỏ nhoi này là cả một sự hy sinh to lớn còn mãi với thời gian. Tôi thấy lòng mình trầm xuống khi cúi đọc những dòng chữ tưởng niệm khắc tạc trên bia. Tiếng của những đấng sinh thành khóc con, những người vợ, người con khóc chồng, khóc cha... Có lẽ khi khoác lên người bộ quân phục nhà binh, những người lính đang yên nghỉ nơi đây chắc hẳn không ai ngờ mình lại đi xa, xa mãi đến nơi vĩnh hằng như vậy. Có vài ngôi mộ mà người nằm bên dưới tuổi đời còn rất trẻ, 20, 22. Chắc hẳn khi nằm xuống họ vẫn còn đang ấp ủ nhiều hoài bão, ước mơ...

Tôi bắt gặp vài du khách trong khuôn viên nghĩa trang. Có người đứng lặng yên. Vài người – như nhóm chúng tôi – đi loanh quanh dọc theo hàng bia mộ. Có người ngồi sửa lại khóm hoa. Có người đang đưa tay rờ lên mặt bia... Nghe bảo, gia đình những người lính đang nằm đây, dẫu ở cách xa vạn dặm, thỉnh thoảng vẫn đến thăm viếng tưởng niệm, người thân của mình.

Đã đến giờ chúng tôi phải đi tiếp. Ngoái nhìn nghĩa trang lặng lẽ, tôi tự nói với mình, không có cuộc chiến tranh nào có nghĩa và không có sự hy sinh nào là vô nghĩa. “He died that we might live... Ever remember”, tôi đã đọc được dòng chữ này trên mộ của một binh nhì người Anh. Bất chợt nhớ đến câu nói của Fred Seiker - một tù binh Hà Lan may mắn còn sống sót: "When you go home, tell them of us and say, for your tomorrow we gave our today" (Tạm dịch: “Khi các bạn về nhà, hãy kể với mọi người về chúng tôi, và hãy nói rằng chúng tôi đã dành hôm nay của mình cho ngày mai của các bạn”)

Chạm vào cây cầu huyền thoại
... (hôm khác post tiếp) 

* Con số đọc từ tấm bảng đồng tưởng niệm ngay cửa ra vào của nghĩa trang

Thursday, October 17, 2013

Đường quen lối nhớ

Nhân sáng đi ngang con đường đã lâu không qua




Những con đường đi mãi đã thành quen
Tiếng còi tàu mỗi chiều vang góc phố
Không tiễn đưa ai
Sao vẫn thấy chạnh lòng...


Tôi thường đi làm theo một cung đường nhất định. Ít khi thay đổi. Đôi khi tôi có ý nghĩ buồn cười rằng giả sử có ai đó muốn đòi nợ hay bắt cóc, hành hung tôi thì chắc hẳn sẽ khá dễ dàng, không gặp bất cứ khó khăn nào, cũng không phải tốn nhiều thời gian chi cả, chỉ cần theo dõi tôi 2 ngày là đủ để vạch ra lộ trình vụ án.

Người ta hay nói nhắm mắt cũng có thể đi được đến nơi nọ nơi kia, để chỉ những con đường quen thuộc, những điều nhớ thuộc làu như lòng bàn tay. Thỉnh thoảng, tuy tôi không nhắm mắt, nhưng khi đã ngồi yên vị ở cơ quan, ngắm cảnh và nghĩ vẩn vơ, tôi giật mình khi nhớ mãi không ra được đích xác lúc nãy tôi đã chạy như thế nào đến cơ quan, tôi đã thấy những gì trên đường... Tôi tự giễu mình “đi theo quán tính”.

Một dạo tôi đi học xa. Buổi sáng quay về sau thời gian dài vắng mặt, chợt thấy thành phố dường như rất lạ. Vẫn là con đường ấy, vẫn góc phố ấy, ngã tư ấy mà sao có khá nhiều điều đến lúc này tôi mới nhận ra. Có lẽ như thói thường, người ta thường hay bỏ qua không để ý đến những gì đã quá quen thuộc, đến lúc đi xa mới nhớ quay quắt, đến lúc gặp lại mới sực nhận ra những điều mình thấy lạ đó hóa ra đã thành thân thiết như hơi thở tự bao giờ.

Như thể một hôm tình cờ đi ngang qua đường A, đường B, ta chợt nhớ ra con đường này ta đã từng qua lâu lắm rồi. Góc phố này bạn ta đã ở, rồi vô thức ta đưa mắt dõi tìm một bóng dáng quen xưa.

Phải chăng những con đường quen lâu dần thành lối nhớ.

Như tôi sáng nay ngang qua con đường X. – con đường lâu rồi ngại không đi, tôi bất chợt thấy lại một tôi rụt rè của lần đầu tiên khi một đứa con gái ghé nhà đứa con trai – không phải bạn học, mà lại thân. Bất chợt vu vơ nhớ một điều thân thuộc mà nay đã thật xa!

15.10.2013

Wednesday, October 2, 2013

Rưng Rưng Phận Người




Chẳng biết có phải trời ủng hộ chúng tôi hay không, mà trong khi trời Bình Dương mưa không ngớt hạt, đoạn đường từ Bình Dương đến xã Chánh Phú Hòa, Bến Cát trời lại trong xanh, không một giọt mưa. Tỉnh lộ 751 rộng thênh thang, bằng phẳng, và vắng hoe chỉ có một dọc mấy chiếc xe của đoàn chúng tôi bon bon. Tuy nhiên đường hẹp dần, kèm theo bùn đất do ảnh hưởng của cơn mưa sáng khi chúng tôi rẽ vào cây số 16.

Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người già xã Chánh Phú Hòa nằm khuất sâu giữa 2 bên vườn cao su. Anh bạn đồng nghiệp Ấn Độ đi cùng xe hỏi tôi có biết vì sao trung tâm lại nằm khuất bên trong mà không ở phía ngoài mặt tiền. Tôi trả lời giọng không lấy làm chắc chắn lắm “có lẽ do đất bên ngoài đắt, và có lẽ do xung quanh là vườn cao su người ta không muốn phá”.

Trung tâm Chánh Phú Hòa rộng thênh thang, diện tích có lẽ phải đến cả trăm hecta. Từ cổng vào là một khoảnh sân rộng để đổ xe, một sân bóng mini cỏ xanh rờn, một dãy nhà hành chính và hội trường khang trang, rồi từ đó chìa ra những lối đi nhỏ dẫn đến những ngôi nhà dài, đơn sơ, mà ban phụ trách gọi là Trại. Mỗi trại có khoảng 20 đến 30 cụ già sinh sống. Chị thư ký bảo với tôi, các cụ được Sở Lao Động Thương Binh & Xã Hội thành phố Hồ Chí Minh gửi đến sau những đợt thu gom, chủ yếu là những cụ già lang thang, không người thân, không nơi nương tựa, hoặc bị bỏ rơi ở những bệnh viện…

Chúng tôi ghé vào thăm trại của các cụ bà vẫn còn khỏe mạnh trước, rồi mới sang nhà của các cụ mất sức, khuyết tật... Căn nhà tường, chia làm 2 hồi, màu sơn cũ kỹ với những chiếc cửa sổ gỗ bạc phết không chắn song, mang cảm giác buồn buồn. Hai bệ xi măng, chiều rộng khoảng 2m, đối diện nhau áp sát tường kéo dài xuyên suốt căn phòng là nơi ngủ nghỉ của các cụ. Mỗi cụ được chia một phần diện tích 1mx2m, phân cách bằng một sọc ngăn mờ chiếu lệ. Phía bên trên gần sát trần, có một kệ sắt cũng kéo dài theo chiều dà bệ xi măng là nơi để “gia tài”: mỗi người một thùng giấy cạc-tông, vài túi sốp, vài nón lá…

Khi chúng tôi bước vào, các cụ đã ngồi sẵn ngay phần “giường” của mình, phía trước mặt là một khay nhựa, loại nhựa thường, có nhiều ô nhỏ, có lẽ dùng để đựng thức ăn hàng ngày. Tiếng vỗ tay chào mừng, rào rào đúng nhịp như đã được huấn luyện nhiều lần. Bỗng nhiên tôi thấy xốn xang, áy náy lạ lùng. Tôi nhìn những dáng ngồi nghiêng nghiêng, lặng lẽ như âm thầm cam chịu. Bất giác tôi tự hỏi chúng tôi là ai? Tuổi đời chúng tôi chẳng là bao nhiêu so với các cụ, thế mà các cụ ngồi đó, chờ chúng tôi, chào chúng tôi như thể chúng tôi là người, các cụ phải chịu ơn. Cái suy nghĩ khiến tôi ray rứt, tôi cố gắng làm mọi cách để hành động để quà lên khay của tôi không mang màu ban phát. Tôi cầm tay cụ bà khiếm thị, chạm vào những món quà tôi vừa mới đặt lên khay, “Bà ơi, đây là sữa, đây là bánh... chút quà chúng con biếu bà thêm vào bữa ăn hàng ngày”. Bàn tay gầy guộc, run run giữ tay tôi như chẳng muốn buông. Tôi nhớ bàn tay của bà tôi, cũng nắm tay tôi như thế, cũng rờ rờ vuốt ngón tay tôi như thế.

Chị thư ký đang giới thiệu về hoạt động của trung tâm mà tôi nghe dường như đang kể về nơi nào xa lạ lắm. Ở nơi tôi đang đứng đây, những chiếc “giường” xi măng chắc hẳn lạnh hơn khi mưa đến, những chiếc mền mỏng chắc chẳng ấm hơn khi gió về. Tuổi già, có lẽ lưng các cụ cần nơi ngã lưng êm hơn, phải chi có thêm tấm drap, chiếc chiếu...

Có tiếng khóc phía sau khi chúng tôi bước đi... Mưa bắt đầu lất phất hạt... Có lẽ trời cũng rưng rưng thương những phận người....

Bến Cát, 21.09.2013

Monday, September 23, 2013

Trẻ con và người lớn

Trẻ con ấy thế mà hay. Vừa mới gặp nhau, sau vài câu chào hỏi, là có thể bá vai cặp cổ, cùng nhau chia sẻ một niềm vui, một câu chuyện, một trò chơi...

Người lớn có lẽ cũng đã từng hay như thế. Nhưng năm tháng ngoài việc lấy đi sự vô tư trẻ con, còn vô tình dựng lên những rào cản vô hình....

Người lớn bây giờ hồn nhiên theo kiểu lớn. Hồn nhiên nghi ngờ nhau dẫu đã thật quen!

23.09.2012

Monday, August 19, 2013

Friday, August 16, 2013

Niềm Tin

Niềm tin không ai bán
Cũng chẳng phải của cho
Mà tất cả là do
Tự thân ta tìm thấy

Niềm tin thường dễ mất
Cũng chẳng phải dễ tìm
Ai được trao nên cất
Đừng để vỡ thì đau

16.08.2013

Tuesday, August 13, 2013

Nhúc Nhích Chân

Sáng nay mình ngồi ở quán cà phê. Bên cạnh có 2 anh sơ mi, cra-vát đang nói chuyện với nhau. Quán vắng, nên thỉnh thoảng những lúc lên giọng, vài câu của 2 anh, không mời mà nó cũng lọt vào tai mình.

Anh sơ mi trơn nói khá nhiều, kiểu dạy dỗ. Anh sơ mi sọc nói chậm rãi, kiểu giải thích.

Một khoảnh khắc - có lẽ - cao trào, mình nghe anh áo sơ mi trơn, nói với anh sơ mi sọc: "Muốn tiến xa thì phải nhúc nhích chân".

Rất bài bản.

Mình ngồi, không làm gì cả, chỉ chờ em phục vụ mang bánh mì đến, nên nghĩ thầm: "Nhúc nhích chân mà trúng ngay đống sình (thật ra mình muốn nói đống shit) thì cũng chẳng đi được đến đâu".

13.08.2013

Friday, August 2, 2013

Nhân đọc một bài báo

Qua nay đọc vài bài báo và những cái comment trên VNE viết về chuyện UBND Tp. ĐN đòi kiện 2 học viên của "Đề án phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao", do tự ý bỏ việc, không thực hiện đủ thời gian làm việc đối với thành phố theo cam kết khi tham gia đề án.

Đọc thấy gần như hầu hết các ý kiến đều đồng tình với UBND ĐN. Tôi không có ý kiến hay bình luận đúng-sai, chỉ kể lại 1 câu chuyện cũng giông giống vụ này.

Chuyện là tôi có người bạn (gọi là bạn, nhưng thật ra bạn thuộc lớp đàn em của tôi). Bạn dạy ở trường ĐHĐN một thời gian thì được cấp học bổng đi học thạc sĩ ở Mỹ, rồi sau đó học tiếp lên tiến sĩ.

Trong suốt thời gian đi học bạn không được hưởng 40% lương theo quy định của nhà nước, mặc dù bạn đã ký hợp đồng dài hạn. Rồi khi đi học về, mức lương của bạn thấp hơn mức lương của người cùng thâm niên với bạn 2 bậc. Bạn học kinh tế học, trường bắt bạn dạy môn kinh tế môi trường. Một dạo, trường cho bạn ngồi chơi xơi nước. Bạn làm đơn xin chuyển việc, rồi đơn xin nghỉ việc nhưng trường nhất định không cho. Bạn bỏ việc gần 2 năm thì vào Sài Gòn. Lúc này ĐHĐN ra quyết định kỷ luật và yêu cầu bồi thường.

Giằng co qua lại, kiện cáo qua lại. Cuối cùng bạn được xử trắng án. Giờ bạn đang dạy cho 1 trường ĐH ở SG. Thấy học trò có vẻ quý và kính trọng bạn.

Trong mắt tôi, bạn là người đầy nhiệt huyết với nghề dạy, với học trò. Có tinh thần trách nhiệm cao. Nghiêm túc, không thỏa hiệp hay khoan nhượng. 

Đọc bài báo, tôi nhớ đến chuyện của bạn, vậy thôi!

02.08.2013

Tuesday, July 23, 2013

Tĩnh

1. Một buổi sáng, tôi cần đến một cuộc hẹn gấp, nhưng một cuộc gọi gấp hơn giữ chân tôi lại, khiến thời gian di chuyển đến cuộc hẹn của tôi bị rút ngắn. Tôi có cảm giác đường hôm ấy đông đúc hơn bình thường. Những lần buộc phải dừng đèn đỏ hay bị xe khác ngáng ngang, đều khiến tôi khó chịu.

Sau khi gặp đối tác, giải quyết xong công việc, tôi về lại cơ quan. Không còn bị giới hạn bởi thời gian, tôi cho xe chạy chầm chậm. Phố xá vẫn đông đúc, nhưng những lần dừng đèn đỏ, hay phải tránh xe khác, chạy sau xe khác, không còn khiến tôi bận tâm nữa.

Và trong lúc chạy xe chầm chậm như thế, tôi nghĩ về sự thay đổi cảm xúc của tôi chỉ trong một buổi sáng. Chính xác, một khoảng thời gian rất ngắn, trong 1 tình huống môi trường xung quanh gần như là giống nhau. Tôi tự hỏi mình, thật ra nguyên nhân dẫn đến sự khó chịu của tôi là gì? Tôi bị sức ép của thời gian đến cuộc hẹn. Tôi có thể thay đổi được thời gian hay thay đổi tín hiệu đèn giao thông, hoặc sự đông đúc trên đường đi không? Không. Thế thì tôi khó chịu để làm gì!

2. Vừa rồi có một số việc xảy ra khiến tôi loay hoay như con mèo cắn chiếc đuôi của nó.

Tôi kể với một người bạn. Bạn nói với tôi vài điều. Những điều bạn nói khiến tôi liên tưởng đến câu chuyện bên trên.

Cũng giống như khi tôi chạy xe trên đường. Đông người, nhưng chẳng ai để ý đến ai, chẳng ai biết được người bên cạnh mình đang hối hả hay nhàn tản.

Thật khó để người này hiểu được người kia. Những sự quan tâm đôi khi thành xa xỉ!

3. Sáng nay tôi có việc phải đến bưu điện. Trong khi tôi ngồi đợi đến lượt, có vài người chen ngang, đến sau nhưng được phục vụ trước. Tôi vốn là người khá khó chịu khi bị chen ngang như thế. Thế nhưng hôm nay, tôi áp dụng “chuyện đi đường”, tôi tự hỏi mình, tôi có cần về cơ quan liền không? Không. Tôi có việc gì bận không? Không. Vậy thì tôi chờ thêm chút nữa cũng chẳng sao.

4. Bằng cách như thế, tôi tập cho mình sự tĩnh lặng thờ ơ trước mọi việc.

23.07.2013

Monday, July 1, 2013

Lựa Chọn

Hôm rồi trong lúc lượn lờ FB, tôi xem được một bức ảnh khá hay và thú vị (đối với tôi). Thế là tôi mượn mang về để trên trang của mình.

Bức ảnh đặt người xem vào một quyết định – không kém phần nhạy cảm và khó khăn. Bức ảnh đây.


Vào thời điểm tôi mượn ảnh mang về, trên trang nguồn đã có hơn trăm comments. Trong đó, quyết định “bay đi” chiếm tỉ lệ khá cao.

Trên trang của tôi chỉ có 3 comments, 1 comment bảo chú chim bên phải nhún xuống để chiếc lồng chạy về bên phải, 2 comments hỏi lại tôi phải sao bây giờ.
Thật ra, tôi không chú ý đến phương thức giải quyết, mặc dù việc một con chim nhún xuống cho chiếc cần nghiêng là không tưởng. Và tôi cũng không bận lòng lắm đến quyết định, bay hay đậu.

Điều mà tôi để ý.

1. Ở một nơi công cộng (trang xuất phát bức ảnh là trang công cộng – fan page), không ai quen biết ai, người ta dễ phát biểu đúng theo những gì người ta nghĩ (hoặc dự định hay thật sự nghĩ). Nó không bị giới hạn bởi nỗi sợ về sự “bị đánh giá”, “bị nhìn nhận”. Việc chọn giải pháp “bay đi” (nghĩa là mặc kệ con kia) là việc tự nhiên, bản năng. Thế nhưng sẽ chẳng ai dám công khai nói câu đó khi xung quanh là người quen. Nói chung là kềm chế ;)

2. Như đã nói ở trên, câu trả lời cho bức ảnh là nhạy cảm và khó khăn. Nhạy cảm và khó khăn ở chỗ dễ bị cho là ích kỷ, cá nhân, bỏ bạn bỏ bè (bỏ búp bê hehe). Còn ở lại chết chùm thì – có lẽ - không cam lòng ;)

3. Với tôi đây là phần thú vị. Sao không ai nghĩ con kia là kẻ thù. Giả sử con kia là kẻ thù thì việc quyết định bay hay đậu bỗng nhiên thành đơn giản.

4. Phần này thú vị hơn. Có vẻ như mọi người bị ám thị bởi câu hỏi, bởi hình ảnh 2 con chim đang trên bờ vực... nghiêng, nên chăm chú vào việc giải quyết: quyết định xem bay hay đậu hay nhún v.v... mà bỏ qua phần quan sát. Nhìn kỹ, 2 con chim không có chân, chân tụi nó bị dính chặt vào lồng và vào thanh xà, làm sao mà tụi nó bay.

5. Nhưng, một cách nghiêm túc, bức ảnh hay và thú vị ở chỗ đặt người xem vào một lựa chọn – sinh tử (mặc dù chỉ là giả lập), cho người ta cơ hội nhìn lại sự thật thì điều gì là quan trọng, sự an nguy của cá nhân hay sự hy sinh tình cảm.

01.07.2013

Sunday, June 30, 2013

Tự Ước...


Giá mình có trong tay chiếc đũa thần
Vẫy một cái, mọi điều theo ý muốn
Chắc mình vẫy một ngày dăm bảy bận
Bởi mình tham, nên ước muốn thật nhiều

Giá mình được sở hữu máy thời gian
Bấm một nút, ngày giờ xoay vun vút
Mình sẽ bấm một ngày hai ba nút
Bởi đôi khi...muốn thay đổi vài điều

Giá mình có... chỉ cần... hai điều ước
Chẳng tham lam - mơ thế giới hoà bình
Mình sẽ ước cho mình cây đũa phép
Điều thứ hai...mình không ước...để dành ;)

(Sáng CN biếng lười, nằm và nghĩ nhảm - 30.6.2013)

(Ảnh mượn trên internet)

Friday, June 28, 2013

Ước...

1. Thỉnh thoảng tôi lại ước một cách mãnh liệt rằng, giá như đã không làm điều này, không nói điều nọ, không như thế kia... Dẫu biết điều đó chẳng bao giờ có thể được, nhưng vẫn ước. Thật buồn cười.
 
2. Tối qua trên đường về nhà sau buổi họp mặt lớp, bất chợt nghĩ linh tinh nhiều việc. Kiểu như vừa mới cùng bạn bè nói cười ồn ào, giờ xung quanh vắng lặng, chỉ một mình bon bon một chiếc xe. Mọi việc thay đổi như ta lật một tờ lịch, thế là thành ngày hôm qua vậy.

3. Rồi nghĩ về những nhóm bạn - đông có, ít có. Có nhóm cảm thấy "thuộc về" - cho dẫu chỉ có 1,2 người cùng chơi, có nhóm không - cho dẫu là đông. Bỗng nhớ đến câu nói của cô bé Cedar trong quyển "Chuyện Thật Tí Ti Của Cedar B. Hartley", đại loại: "Một nhóm nhỏ không phải là ra rìa, một nhóm nhỏ chơi với nhau cũng có nhiều điều thú vị"

4. Và ước....


28.06.2013





Vô lý

 
     (Ảnh từ internet)

Đến cỏ cây cũng biết buồn
Thế mà bạn bảo tôi
"Hãy vui lên"
Khi lòng tôi đang có bão!

28.06.2013

Tuesday, June 25, 2013

Linh tinh về thư thương mại

Tôi nhận được một email mời họp. Dòng đầu ghi: "Dear ACE...". Ấn tượng đầu tiên của tôi là: "Một cái mail thiếu chuyên nghiệp".

Có nhiều người, tuy đã đi làm rất nhiều năm, đang giữ một số chức vụ khả dĩ, nhưng không nhận thức được rằng, một bức thư thương mại khác rất nhiều với một bức thư cá nhân.

Một khác biệt nho nhỏ có thể kể đến là, trong một bức thư gửi bạn bè, người ta có thể viết tắt, chèn những ký hiệu cảm xúc, viết hoa, viết đậm, tô màu chữ xanh vàng đỏ tím hoa cà... tùy ý. Nhưng với một bức thư thương mại, bất kể gửi cho ai, người gửi không thể tùy tiện như thế. Cần để ý và cẩn trọng với cách trình bày, màu sắc, ngôn từ...

Tôi biết một chuyện, một anh nhân viên (tạm gọi là A), trong một buổi họp, đã rất bức xúc và than phiền với ban giám đốc công ty về việc một cô đồng nghiệp (tạm gọi cô B) đã hành xử thiếu tôn trọng và xúc phạm anh, anh đề nghị cô phải công khai xin lỗi. Cô B ngớ người, phân bua, cô chưa bao giờ lớn tiếng với anh như những gì anh nói, có sự làm chứng của các đồng nghiệp ngồi xung quanh, những khi cô trao đổi cùng anh.

Anh A nói, trong một email trao đổi về công việc, khi anh hỏi ý kiến về một vấn đề, cô B đã trả lời email của anh bằng chữ hoa, in đậm và tô màu đỏ. Anh nói, “như thể cô ấy xem tôi là thằng ngu, hét vào mặt tôi bằng giọng rất tức giận”.

Cô B xin lỗi và giải thích, ý cô không hề như vậy, cô chỉ muốn làm nổi bật câu trả lời cho dễ đọc và theo dõi!

Một chuyện khác, một người tôi biết đã mất hợp đồng, và không chắc giành lại được khách hàng, khi trong vài email liên hệ công việc, bạn không nhắc tên người quyết định hợp đồng (hoặc để tên người ấy nằm sau tên những người khác) trong lời chào đầu thư và bạn để tên người quyết định ấy trong mục cc. (là nhóm người được gửi cho với  mục đích thông báo cho biết, không cần có ý kiến).

Gửi mail thương mại, dễ nhưng không dễ. Chính vì vậy mà người ta đã viết cả chục quyển sách hướng dẫn cách viết mail hiệu quả và tất cả đều thành best-seller!

25.06.2013

Lãng (2)

Tối qua, vừa ra khỏi lớp học, nhìn lên trời, thấy một vầng trăng thật tròn, gần. Bao xung quanh vầng trăng là một quầng ánh sáng. Trăng không phải một màu trắng, mà dường như có ánh vàng.

Nhớ ra, buổi sáng, bắt gặp mặt trời trong veo, tròn vạnh, không ánh hào quang, có thể nhìn thẳng vào mà không chói nắng...

Cả 2 lần đều đang trên đường đi, nên không thể dừng xe lại chụp hình. Có hơi tiếc, nhưng cũng không sao, vì dù sao cũng bắt gặp được khoảnh khắc đẹp của thiên nhiên.

25.06.2013


Friday, June 7, 2013

Con phô mai

Lúc nãy mình đứng mua bánh mì. Một bác đứng bên cạnh khều mình hỏi: Cháu gái, con phô mai là con gì, cháu có biết không?

- Khô nai hả bác? - Mình hỏi lại cho rõ

- Không, phô mai. Đây nè (bác chỉ vô bảng), bác thấy người ta ghi: "Bánh mì ba-con-phô-mai". Không biết  con phô mai là con gì.


(Ảnh không mang tính minh họa :) - Bánh mì ngũ cốc, da bánh xù xì như da cóc) 


(Nói chứ, vụ "ba con phô mai" là có thiệt :DD , nhưng câu chuyện là tôi bịa, vì đọc cái chữ "ba con phô mai" tôi không sao nhịn cười)


Thursday, June 6, 2013

Giữ

Làm sao giữ gió đừng bay nữa
Giữ mây dừng lại giữa lưng trời
Giữ cho khoảng cách vừa tay với
Giữ tình như thể mới hôm qua

05.06.2013

Sunday, June 2, 2013

River Kwai March

Có lẽ ai nhớ phim Cầu Sông Kwai cũng sẽ nhớ luôn nhạc nền, tiếng huýt sáo của các tù binh lặp đi lặp lại một vài lần trong phim. Đặc biệt là đoạn mở đầu phim và đoạn cuối phim..... Ten tèn, tèn tèn tèn tén tén ten ten tèn...

Đoạn nhạc có tên là "The River Kwai March" được viết bởi Malcolm Arnold vào năm 1957 (năm ra đời của bộ phim) có cùng hợp âm với bản nhạc gốc "The Colonel Bogey March" sáng tác bởi đại úy hải quân Frederick Joseph Ricketts vào năm 1914.

Có lẽ nhờ tiếng vang của bộ phim (giành được 7 giải Oscar, 3 giải Quả Cầu Vàng và 3 giải Bafta) mà bản nhạc gốc "The Colonel Bogey March" được sống lại dưới cái bóng "The River Kwai March".

Cũng trong năm 1957, nhà thu âm Mitch Miller đã kết hợp 2 bài nhạc này lại trong đĩa đơn của ông. Đĩa này trở thành bản hit.

Một chi tiết khá thú vị, dựa trên nền nhạc này, trong dân gian lan truyền một bài hát (có lời hẳn hòi) mang tên "Hitler has only got one ball" (hìhì.. không nên dịch ra tiếng Việt)

Hitler has only got one ball,
Göring has two but very small,
Himmler is somewhat sim'lar,
But poor Goebbels has no balls at all.

Thoạt đầu đạo diễn Lean định cho các diễn viên hát bài này, nhưng nhà quay phim Sam Spiegel cho rằng nó quá thô tục, nên cuối cùng, các diễn viên đã huýt sáo bản nhạc.

Giờ thì nghe nhạc và thử hát theo lời trên xem sao ;)


Friday, May 31, 2013

Lãng...

 
Buổi sáng biếng lười.

Chỉ muốn nằm dài trên giường, mặc kệ nắng sáng lấp ló. Vễnh tai nghe tiếng ríu rít của bầy chim sẻ. Tiếng grùu grù của bầy chim câu.

Chỉ muốn ngồi ngắm mây trôi, nhấp ly trà vừa pha ấm nóng. Chìm trong cái tĩnh lặng của buổi đầu ngày. Và ước ... cứ im lặng như thế mà thôi...


31.05.2013

Friday, May 24, 2013

Phía sau

“Mỗi sáng đi làm tôi chạy phía sau một vài chiếc xe”. Tôi nói đến đây rồi dừng lại.

Một người bạn nhanh nhẩu chất vấn: “Sau không chạy lên trước mà lại chạy sau xe khác?”

Có vẻ như trong chúng ta, ít nhiều ai cũng có một chút hiếu thắng. Như anh bạn tôi chẳng hạn, anh ấy không muốn chạy phía sau người khác. Và ngay cả tôi cũng thế, khi dừng câu nói lại giữa chừng, tôi cũng có chủ ý muốn người nghe bộc lộ điểm khuất của họ.

Hiếu thắng chẳng có gì sai, nếu biết dừng đúng lúc. Nó như một loại động lực giúp con người ta vươn lên, và thể hiện bản thân…. Dĩ nhiên, nếu biết dừng đúng lúc.

Có người sẽ hỏi: “Làm sao biết được khi nào là đúng lúc để dừng?”.

Loài sóc đâu có trí khôn hay giỏi tính toán như con người, thế mà khi chuyền từ cành cây này sang cành cây khác, chúng luôn biết ước lượng được khoảng cách phù hợp với lực nhảy của mình để sao cho không bị rơi.

Khi anh bạn hỏi tôi “sao không chạy lên phía trước”, có lẽ anh chỉ nghĩ, cứ chạy vượt lên là đã không phải chạy phía sau người khác, mà vô tình quên mất một điều, trên đường, trừ phi ta đang ở cuối đường và trước mặt là vách đứng thì – có thể khi đó – ta mới ở phía trước, trước người khác. Còn thì phố xá xe đông đầy, lúc nào phía trước ta cũng có một vài chiếc xe khác.

Cuộc đời cũng thế mà thôi. Trừ phi… và còn thì… ít nhiều... phía trước ta cũng có ai đó.

Khi viết xuống đến đây, tôi chợt có ý muốn sắp xếp lại câu chữ, đại khái một câu là “tôi đi phía sau vài người” và “phía trước tôi là vài người”. Về nghĩa thì không có gì khác nhau, nhưng về cảm giác có vẻ như khi ta nói “tôi đi phía sau vài người” nghe có vẻ thụ động, cam chịu, thua cuộc… Còn khi nói “phía trước tôi là vài người” nghe đầy vẻ tự chủ, hiểu biết.

Thế nghĩa là, quan trọng là tâm thế, cách ta đón nhận và chấp nhận…

30.01.13

Tuesday, May 7, 2013

Hẹn

Ta chọn vu vơ lấy một từ
Ghi thành chữ "nhớ" nét mảnh mai
Xong rồi xếp bỏ vào trong túi
Thỉnh thoảng... lâu lâu... lại lấy xài ;)

Những lời ước hẹn cũng vậy thôi
Cũng non, cũng biển, cũng mây trời
Ví thử trăm năm hồng chỉ thắm
Thiên hạ đâu còn nước mắt rơi :)

07.05.2013

Monday, May 6, 2013

Trường An Loạn




Từ nhỏ sư phụ đã dạy tôi nhiều đạo lý, khiến tôi cảm thấy, đạo lý thực ra đều vô lý, bất kỳ câu nào cũng là đạo lý cả, nếu như bạn muốn tìm đạo lý đến tận cùng.

Nói trước cho những ai không thích tất cả những gì dính đến Trung Quốc, đây là truyện Trung Quốc.

Nói trước cho những ai tuyên bố: “Chỉ thích đọc những tác phẩm văn học nghệ thuật nghiêm túc ”, đây là truyện thuộc nhóm văn học của tác giả 8X.

Nói trước cho những ai yêu truyện chưởng, thích Kim Dung, đây là truyện kiếm hiệp nửa mùa.

1. Trường An Loạn (dịch giả Trần Quang Đức, NXB Nhã Nam và NXB Thời Đại), tác giả Hàn Hàn (Hàn Hàn là ai, gõ google ra 142,000,000 kết quả trong 0.28 giây) là một truyện “kén” người đọc. “Kén” ở đây không phải vì truyện mang nhiều triết lý hoặc vì truyện chứa quá nhiều thứ cao siêu, mà ngược lại “kén” ở đây là thoạt đọc vài trang đầu, những người nghiêm túc, đòi hỏi sự chuẩn mực, tính giáo dục cao, dễ đóng sách lại, ném sang một bên và buông một câu: “Nhảm”. Bởi nhìn bề nổi, Trường An Loạn thuần giải trí, cách kể truyện (hay nói văn hoa là giọng văn, hay văn phong hehe) thì sặc dấm dớ - gọi theo giang hồ teen là - “bựa” hết chỗ nói.

Sư phụ tôi viết: Thời, vận, đều chẳng có cách nào thay đổi, nhưng thời vận lại có thể thay đổi. Điều này rất khó lý giải. Hồi đầu tôi hiểu rằng một dấu phẩy có thể thay đổi tất cả, nhưng sư phụ tôi trả lời: Không, con xem kỹ lại đi!

Câu trước và câu sau chỉ khác nhau có một dấu phẩy, tôi nói.

Sư phụ bảo, con mới chỉ trông thấy bề ngoài, hãy nhìn kỹ lại, sự khác biệt không chỉ là một dấu phẩy.

Từ lúc mặt trời lặn đến khi mặt trời lên, tôi chăm chú nhìn con chữ bưng trên tay đến toét cả mắt, sư phụ mới gọi tôi vào trong phòng hỏi: Con đã nhìn ra sự khác biệt chưa?

Tôi đáp, con chỉ thấy sự khác biệt giữa chúng là một dấu phẩy thôi.

Sư phụ nói, câu trả lời của con đã rất gần với đáp án, nhưng càng gần đáp án, lại càng khó tìm ra đáp án.

Tôi quỳ sụp xuống thỉnh cầu sư phụ giải đáp.

Sư phụ nói, nhìn xem, thực ra có hai dấu phẩy.

Giọng văn và nội dung tưng tửng như thế kéo dài suốt quyển truyện mấy trăm trang. Từ nhân vật chính cho đến nhân vật phụ đều có cách suy nghĩ “xà quần”, cách hành xử ngớ ngẩn, trớt quớt chẳng giống ai, khiến người đọc – những người chịu đọc tiếp – phải phì cười vì sự nhảm nhí. Nhưng cười xong, thì ngẫm nghĩ, rồi gật gù “chí lý”.

Thời, vận, đều chẳng có cách nào thay đổi, nhưng thời vận lại có thể thay đổi. Điều này rất khó lý giải.

Chí lý chứ hả? Và cũng nhảm chứ hả? “Sư phụ nói, nhìn xem, thực ra có hai dấu phẩy” (Tr.6)

2. Trường An Loạn là một truyện, kiếm hiệp mà không kiếm hiệp.

Trong Trường An Loạn cũng có đánh nhau giành chức võ lâm minh chủ, có múa kiếm, phóng phi tiêu, hạ độc dược, bang phái, tiêu cục, Thiếu Lâm, Võ Đang, sát thủ... nhưng lại không hề thấy hiện ra một bí kíp, chưởng pháp hay một thế võ nào cả.

Thay vì xuất chiêu nhanh, người ta lại thấy mọi sự diễn ra chầm chậm qua cách quan sát sự việc của nhân vật chính Thích Nhiên, người vốn được sinh ra có cặp mắt tinh anh, nhìn nhanh hơn thiên hạ, có thể trông thấy ám khí trước khi nó được ném ra. Hắn thản nhiên đem kiếm Linh mà thiên hạ đổ xô đi tìm, đi cầm, lấy tiền thuê ngựa, thuê một con ngựa tên Lép lù đù như lừa… Rồi đủng đỉnh cưỡi con Lép, không hề biết chạy, ngủ nhiều hơn đi, trong lúc cả giang hồ bao vây tứ phía chỉ mong giết được hắn, đệ tử cưng của Thiếu Lâm.

Thay vì thấy một giang hồ hiểm ác ra tay tàn độc, người ta lại gặp một Vạn Vĩnh ngồi chờ Thích Nhiên ngủ cho đủ giấc mới đưa nhau ra luận kiếm, hạ độc rồi mang người vừa bị mình hạ độc về gia trang để giải độc.

Đọc Trường An Loạn gợi nhớ kiếm hiệp Kim Dung.

Có cây kiếm Linh làm mưa làm gió giang hồ, phảng phất cây Ỷ Thiên nhất thống thiên hạ. Có trận báo thù các cao thủ võ lâm ở Quá Sa, một đường kiếm phát ra, không ánh lóe, không âm thanh khiến nhớ đến một Mạc Đại Tiên Sinh chỉ thoáng thấy tay lia thanh trường kiếm giấu trong đáy hồ cầm, keng keng mấy tiếng vang mà bảy chiếc chén trà, chiếc nào cũng hớt tày nửa tấc. Những miệng chén này đều biến thành những vòng tròn trĩnh. Bảy cái vòng sứ rớt xuống bên chén mà những chén nước vẫn còn nguyên không nghiêng đổ một cái nào.

Nhớ câu nói mà Phong Thanh Dương chỉ điểm cho Lệnh Hồ Xung “Luyện võ và sử chiêu linh động, mới chỉ là bước đầu. Luyện đến chỗ ra tay không còn chiêu thức mới tiến vào trình độ tuyệt luân. Theo người thì những chiêu luyện tới chỗ tối cao là không tài nào phá giải được. Ý nghĩ đó chỉ đúng có một điểm là chiêu thức dù có cao đến đâu mà để đối phương tìm thấy đường lối là có thể nhận kẽ hở phá mình ngay. Còn như đã không có chiêu thức thì địch nhân phá vào đâu?” (Hồi 60 - Tiếu ngạo giang hồ)

Giờ nghĩ lại, kiếm pháp có chiêu thức quả thực rất ngu xuẩn, kể cả khi hai người quyết đấu, anh có chiêu của anh, tôi liền có chiêu khắc chế chiêu của anh, một người đứng đó khua kiếm dựa theo chiêu thức, một người đứng đó né kiếm dựa vào những điều viết trong sách, tất cả chỉ chứng tỏ rằng, hai người này rồ dại. Bạn nghĩ xem, nếu chém mãi không trúng người ta, sẽ khó chịu biết nhường nào. Sao không ai nghĩ ra, khi chém mãi không trúng người ta, vốn định chém đầu họ, ta đổi sang chém một nhát ở chỗ khác, thế chẳng phải sẽ trúng luôn sao. Vậy nên tôi hoàn toàn không thể lý giải nổi tác dụng của chiêu thức" (Trường An Loạn - Tr. 173)

Nhớ lần luận kiếm thứ ba ở Hoa Sơn phân lại thiên hạ ngũ tuyệt ở cuối truyện Thần Điêu, không trực tiếp giao đấu mà chỉ phân chia thứ bậc thông qua hiểu biết về võ thuật của nhau “Trên giang hồ có một cách nói rất thịnh hành, tôi và sư phụ đều không thật tán đồng, đó là quyền nọ khắc quyền kia, tỉ như tôi luyện Đường Lang quyền, song nghe nói Hầu quyền có thể khắc chế được Đường Lang quyền. Điều này tuyệt đối không có căn cứ, nếu quả thật như vậy thì giang hồ không cần phải đánh đấm nữa, dùng miệng nói là được, hai người gặp nhau, cùng thông báo quyền pháp, sau đó người nói ra quyền pháp kém hơn phải chịu thua” (Trường An Loạn - Tr. 275).

3. Nếu ai đó không thấy thích Trường An Loạn, không đọc Trường An Loạn cũng không sao. Vì cũng giống như Hàn Hàn viết “Bất kỳ một sự tự do nào cũng đều là khởi đầu cho một sự an bài khác (tr. 29)

Hay,

“Tôi hỏi: Vậy ngay cả sư phụ con cũng không được gặp?

Sư phụ nói: Chớ có nuối tiếc, ta chỉ vừa khéo là sư phụ con thôi. Con hãy nhớ, khi con cảm thấy chẳng có cách nào làm phai nhạt đi hình bóng của ai đó, con hãy nghĩ, người đó “vừa khéo” là người đó, thế là được.

Tôi nói: Lẽ nào mọi việc diễn ra chỉ vừa khéo?

Sư phụ nói: Không, tất cả mọi việc trước khi diễn ra thì là “chưa hay”, sau khi xảy ra và ngẫm nghĩ lại thì gọi là “vừa khéo”.

Tôi nói: Vậy những sự “vừa khéo” kia không phải được sắp sẵn đúng không ạ?

Sư phụ nói: Số phận đã sắp sẵn, mệnh không thay đổi, “vừa khéo” chỉ là một phó từ…(Tr.77 )

Cho nên, đọc hay không đọc tất cả chỉ là vừa khéo mà thôi!

06.05.2013

Thursday, March 7, 2013

Ảnh minh họa

Thỉnh thoảng, khi có dịp, vài người bạn tôi lại chia sẻ trên trang tường của họ hình ảnh về tai nạn giao thông, về trẻ em dị tật... Những hình ảnh đầy tang thương và đau lòng.

Tôi vẫn hay tự hỏi, mỗi lần nhìn những hình ảnh thương tâm đấy (có thể là nhiều lần trong ngày nếu những người bạn ấy lên mạng thường xuyên), tâm trạng của họ như thế nào? Có bị ám ảnh không? Có bị bứt rứt không?

Riêng tôi thì có. Tôi rất sợ.

Có người giải thích với tôi, cần phải có ảnh hay phim minh họa mới đánh động hoặc thu hút hơn sự quan tâm.
 
Tôi nhớ có lần, một tờ báo lớn viết về chuyện một cô  bé bị người lớn “hỏi cung” đến hoảng loạn tinh thần do bị nghi ngờ lấy cắp tiền. Trong bài, người phóng viên đã viết, đại loại, cô bé giờ đây rất sợ người, mỗi khi có ai đó đến gần, cô bé đều chui xuống gầm bàn núp. Bài báo kèm bức ảnh minh họa cảnh cô bé đang co rúm người sợ hãi!  (Tôi tự hỏi nhìn cảnh cô bé hốt hoảng, sợ sệt như vậy, người đang chĩa máy vào để chụp nghĩ gì).

Chợt nghĩ, đôi khi LƯƠNG TÂM và việc tạo (hay tìm cách thu hút) sự QUAN TÂM, có lẽ là một việc khó phân định với vài người!

05.03.2013

 
;