Wednesday, October 30, 2013

Cầu sông Kwai - Di sản của mất mát

CHẠM VÀO CÂY CẦU HUYỀN THOẠI

Rời nghĩa trang, chúng tôi đi sang nơi cây cầu huyền thoại bắc ngang dòng sông.

Nhìn từ xa, chiếc cầu là một khối đen gồ ghề, cũ kỹ. Nếu ai đó đã từng xem bộ phim “Cầu sông Kwai” và nhớ kỹ, có lẽ sẽ thắc mắc “xem ra chiếc cầu không giống lắm”. Đúng vậy, trong bộ phim “Cầu sông Kwai” các cảnh được quay tại Sri Lanka và chiếc cầu được tái hiện bằng gỗ. Cầu thật được xây dựng bằng thép đen vận chuyển từ Java (Indonesia?). Những trụ cầu được xây bằng xi-măng mà giờ đây thời gian đã phủ lên chúng một lớp rêu phong.

Cầu sông Kwai vốn là chiếc cầu dành cho xe lửa, nó là một phần của tuyến đường sắt nối liền Bangkok với Yangoon nhằm tạo con đường huyết mạch để đánh chiếm Myanmar và Ấn Độ.

Theo tài liệu của quân đội Nhật, tuyến đường này được xây dựng cùng lúc từ 2 phía – Miến Điện và Thái Lan. Thoạt tiên, những kỹ sư thiết kế Nhật Bản đã tính toán thời gian xây dựng toàn bộ 415 km đường sắt này phải mất 5 năm, dự kiến hoàn thành vào tháng 8 năm 1943. Trong giai đoạn đầu, tổng cộng khoảng 12,000 binh lính được trưng dụng xây dựng tuyến đường sắt này gồm các binh sĩ của trung đoàn 5 đóng ở Thanbyuzayat (Miến Điện), và trung đoàn 9 đóng ở Kanchanaburi (Thái Lan). Nhưng sức ép chiến tranh đã khiến các chỉ huy quân Nhật ra lệnh rút ngắn thời gian ấy xuống còn 16 tháng. Và vào tháng 6 năm 1942, quân đội Nhật đã đưa đưa đến Miến Điện và Thái Lan khoảng 30,000 tù binh Anh, 18,000 tù binh Hà Lan, 13,000 tù binh Úc và 700 tù binh Mỹ, cùng hơn 61,700 dân phu từ các nước châu Á (bao gồm Trung Quốc, Miến Điện, Thái Lan, Malaysia và Singapore) (*).

Người ta đã gọi đây là “Con đường tử thần” (Death Railway) có lẽ bởi sự khắc nghiệt, cũng có lẽ bởi quá nhiều chết chóc nơi mỗi một thanh tà vẹt đều đánh đổi bằng nhiều mạng sống. “Con đường tử thần” được xem là chứng tích của một trong những tội ác chiến tranh hết sức tàn bạo của thế kỷ 20. Là câu chuyện về địa ngục trần gian, nơi cái chết chính là sự giải thoát.

Hôm nay, giữa trưa của 70 năm sau, tôi đã chạm được vào chiếc cầu, rờ vào vết đạn còn hằn lại nơi thành cầu, đếm bước của mình trên 617 thanh tà vẹt nhuốm màu năm tháng.

Cầu sông Kwai giờ đây là 1 trong những điểm du lịch nổi tiếng của Thái Lan. Mặc cho nắng trưa như thiêu đốt, mặc những thanh cầu tỏa hơi nóng hực, du khách đến tham quan vẫn đông nườm nượp, tưởng như chẳng bao giờ dứt.

Trái ngược với không khí tĩnh lặng ở nghĩa trang, khách tham quan ở khu vực cầu sông Kwai nhộn nhịp, cười đùa, chụp ảnh làm dáng trên cầu.

Ở một góc cầu, một nghệ sĩ violon đường phố đang biểu diễn bài gì đấy. Khi tôi đi ngang qua anh ngừng kéo đàn, vẫy chào và hỏi tôi có phải người Việt Nam không khi thấy nhóm chúng tôi mặc áo bà ba, đội nón lá. Tôi gật đầu. Anh bảo tôi dừng lại, anh sẽ chơi tặng tôi một bài. Bất giác, tôi nhớ đến nhóm những người khuyết tật ngồi ở cổng ra vào đền Tà Phrom, mỗi lần thấy người Việt Nam đi ngang, họ chơi bài “Như có Bác Hồ...”, nên tôi cĩmg có ý chờ giai điệu vốn đã rất quen ấy vang lên. Nhưng... không như phỏng đoán của tôi, anh suy nghĩ một hồi rồi đàn bài “Ánh trăng hiểu lòng tôi” khiến tôi phải bật cười. Anh cũng cười chữa thẹn bảo: “Tôi biết, nhưng tôi không nhớ ra bài hát Việt Nam nào cả”. Tôi cười nói: “Bài hát ấy của Trung Quốc. Sao anh không kéo đàn bài Cầu sông Kwai?”. Anh cười gật đầu: “Ừ, thế nhé”.

Tiếng violin – đôi lúc bị sai nhịp - có vẻ hơi lạc lõng giữa trời nắng nóng, giữa những ồn ào, nhưng nhắc nhớ một giai đoạn lịch sử đau thương, đọa đầy nhưng cũng không kém phần hào hùng của những tù binh chiến tranh, những người đã xây dựng nên chiếc cầu huyền thoại này.

Tạm biệt người nghệ sĩ violin, chúng tôi đi lần về đoạn cuối của cầu. Càng đi về phía xa, cây cối càng um tùm, tiếng ồn ào cũng dần dần rơi lại phía sau. Không biết có phải tại trời tắt nắng, tại thưa vắng bóng người, hay tại tiếng chim kêu chiều mà sao bỗng dưng tôi thấy có điều gì đó buồn buồn. Tôi nghĩ về sự hy sinh của những người trẻ tuổi nơi nghĩa trang. 617 thanh cầu. Biết bao máu, mồ hôi, nước mắt và hơn tất cả là sự sống...

Có tiếng còi tàu ngân dài từ xa... Chuyến tàu hàng ngày lại qua, chở những người khách du lịch nhiều quốc tịch đến để tham quan, đến để trải nghiệm, đến để nhìn lại một quá khứ mất mát...

Ở đầu kia của cầu, pho tượng Phật Quan Âm bên bờ đang lặng lẽ đứng nhìn dòng người trên cây cầu bắc qua sông...

“Behold. All things are become new” – Hãy tin mọi thứ rồi sẽ hồi sinh – Ai đó đã khắc câu này trên mộ bia của người binh nhì người Anh 22 tuổi!

28.07.2013 

(*) Tổng hợp từ internet
(**) Chúng tôi đã đếm được
 





Có ai nhớ cảnh này không?






Monday, October 21, 2013

Cầu sông Kwai - Đừng để nơi ấy lụi tàn

Trước khi tôi lên đường đi chơi, một vài người bạn hỏi đi đâu, khi nghe tôi đáp “Đi xem cầu sông Kwai”, bạn tròn xoe mắt ngạc nhiên “Cầu sông Kwai ở đâu? Có gì vui, có gì hay mà phải đến đó?”.

Tôi biết đến “cầu sông Kwai” nhờ bộ phim cùng tên, chiếu trên tivi, hình như vào những năm 90. Chuyện phim kể về quá trình xây dựng tuyến đường sắt nối liền Miến Điện và Thái Lan cũng như cuộc sống và điều kiện làm việc khắc nghiệt của tù binh trong Chiến Tranh Thế Giới Thứ Hai. Bộ phim đã để lại ấn tượng sâu sắc trong tôi. Cũng không ngờ có ngày nơi ấy – cầu sông Kwai, lại nằm trong điểm đến của tôi trên bước đường “đi đây đó”. Hôm các chị Hội BBT đưa ra lịch trình, đọc trong danh sách có “cầu sông Kwai” là tôi thấy thích ngay, thấy chuyến đi đáng để tham gia.

Bình lặng Nghĩa trang chiến tranh Kanchanaburi






Chúng tôi đến khu vực tỉnh Kanchanaburi, nơi có dòng sông Kwai và chiếc cầu huyền thoại vào giữa trưa. Buổi trưa hè của một nước khu vực Đông Nam Á đầy nắng, oi nồng, hiếm hoi gió.


Điểm dừng chân đầu tiên của chúng tôi là Nghĩa trang chiến tranh Kanchanaburi (Kanchanaburi War Cemetery). Nếu chỉ lướt qua bên ngoài, không ghé vào bên trong, chắc hẳn có người sẽ lầm tưởng đây là một góc khuôn viên nhà thờ nào đó, bởi sự yên tĩnh tuy nghiêm trang nhưng không kém phần thân thiện.

Cửa vào nghĩa trang là một chiếc cổng vòm màu trắng, một hàng cây leo xanh mướt, vừa ngang tầm ngực thay cho tường rào, bên trong là một mảng cỏ xanh rì được chăm sóc cẩn thận. Trên lối đi chính là một chiếc trụ thánh giá màu trắng. Những ngôi mộ xếp hàng thẳng tắp hai bên.

Mọi thứ ở nơi đây toát lên vẻ bình lặng, giản dị và sạch sẽ, tuyệt nhiên không hề mang màu chết chóc u ám hay một sự phô trương bề thế. Cả ngàn (hay chục ngàn) mộ bia bằng đá đen ghi họ tên, quốc tịch, chức vụ, ngày mất... của từng người nằm bên dưới, đang xen cùng những cụm hoa tươi. Hơn 5,000 tù binh người Úc, khoảng 1,800 tù binh người Hà Lan, cùng với hơn 300 tù binh chiến tranh mang các quốc tịch khác nhau và 11 người lính Ấn Độ* (trong số khoảng 15,000 tù nhân chiến tranh và 100,000 dân thường) - những người đã nằm xuống cho việc xây dựng và hoàn thành tuyến đường sắt nối liền Siam và Burma (tên gọi cũ của Thái Lan và Myanmar) - được tưởng niệm tại nghĩa trang này.

Tôi đi dọc theo từng hàng mộ bia. Ở nơi đây không có chỗ cho bất kỳ sự phân biệt chủng tộc, quốc gia hay màu da, cấp bậc, tôn giáo... Bên dưới mỗi tấm bia hình chữ nhật nhỏ nhoi này là cả một sự hy sinh to lớn còn mãi với thời gian. Tôi thấy lòng mình trầm xuống khi cúi đọc những dòng chữ tưởng niệm khắc tạc trên bia. Tiếng của những đấng sinh thành khóc con, những người vợ, người con khóc chồng, khóc cha... Có lẽ khi khoác lên người bộ quân phục nhà binh, những người lính đang yên nghỉ nơi đây chắc hẳn không ai ngờ mình lại đi xa, xa mãi đến nơi vĩnh hằng như vậy. Có vài ngôi mộ mà người nằm bên dưới tuổi đời còn rất trẻ, 20, 22. Chắc hẳn khi nằm xuống họ vẫn còn đang ấp ủ nhiều hoài bão, ước mơ...

Tôi bắt gặp vài du khách trong khuôn viên nghĩa trang. Có người đứng lặng yên. Vài người – như nhóm chúng tôi – đi loanh quanh dọc theo hàng bia mộ. Có người ngồi sửa lại khóm hoa. Có người đang đưa tay rờ lên mặt bia... Nghe bảo, gia đình những người lính đang nằm đây, dẫu ở cách xa vạn dặm, thỉnh thoảng vẫn đến thăm viếng tưởng niệm, người thân của mình.

Đã đến giờ chúng tôi phải đi tiếp. Ngoái nhìn nghĩa trang lặng lẽ, tôi tự nói với mình, không có cuộc chiến tranh nào có nghĩa và không có sự hy sinh nào là vô nghĩa. “He died that we might live... Ever remember”, tôi đã đọc được dòng chữ này trên mộ của một binh nhì người Anh. Bất chợt nhớ đến câu nói của Fred Seiker - một tù binh Hà Lan may mắn còn sống sót: "When you go home, tell them of us and say, for your tomorrow we gave our today" (Tạm dịch: “Khi các bạn về nhà, hãy kể với mọi người về chúng tôi, và hãy nói rằng chúng tôi đã dành hôm nay của mình cho ngày mai của các bạn”)

Chạm vào cây cầu huyền thoại
... (hôm khác post tiếp) 

* Con số đọc từ tấm bảng đồng tưởng niệm ngay cửa ra vào của nghĩa trang

Thursday, October 17, 2013

Đường quen lối nhớ

Nhân sáng đi ngang con đường đã lâu không qua




Những con đường đi mãi đã thành quen
Tiếng còi tàu mỗi chiều vang góc phố
Không tiễn đưa ai
Sao vẫn thấy chạnh lòng...


Tôi thường đi làm theo một cung đường nhất định. Ít khi thay đổi. Đôi khi tôi có ý nghĩ buồn cười rằng giả sử có ai đó muốn đòi nợ hay bắt cóc, hành hung tôi thì chắc hẳn sẽ khá dễ dàng, không gặp bất cứ khó khăn nào, cũng không phải tốn nhiều thời gian chi cả, chỉ cần theo dõi tôi 2 ngày là đủ để vạch ra lộ trình vụ án.

Người ta hay nói nhắm mắt cũng có thể đi được đến nơi nọ nơi kia, để chỉ những con đường quen thuộc, những điều nhớ thuộc làu như lòng bàn tay. Thỉnh thoảng, tuy tôi không nhắm mắt, nhưng khi đã ngồi yên vị ở cơ quan, ngắm cảnh và nghĩ vẩn vơ, tôi giật mình khi nhớ mãi không ra được đích xác lúc nãy tôi đã chạy như thế nào đến cơ quan, tôi đã thấy những gì trên đường... Tôi tự giễu mình “đi theo quán tính”.

Một dạo tôi đi học xa. Buổi sáng quay về sau thời gian dài vắng mặt, chợt thấy thành phố dường như rất lạ. Vẫn là con đường ấy, vẫn góc phố ấy, ngã tư ấy mà sao có khá nhiều điều đến lúc này tôi mới nhận ra. Có lẽ như thói thường, người ta thường hay bỏ qua không để ý đến những gì đã quá quen thuộc, đến lúc đi xa mới nhớ quay quắt, đến lúc gặp lại mới sực nhận ra những điều mình thấy lạ đó hóa ra đã thành thân thiết như hơi thở tự bao giờ.

Như thể một hôm tình cờ đi ngang qua đường A, đường B, ta chợt nhớ ra con đường này ta đã từng qua lâu lắm rồi. Góc phố này bạn ta đã ở, rồi vô thức ta đưa mắt dõi tìm một bóng dáng quen xưa.

Phải chăng những con đường quen lâu dần thành lối nhớ.

Như tôi sáng nay ngang qua con đường X. – con đường lâu rồi ngại không đi, tôi bất chợt thấy lại một tôi rụt rè của lần đầu tiên khi một đứa con gái ghé nhà đứa con trai – không phải bạn học, mà lại thân. Bất chợt vu vơ nhớ một điều thân thuộc mà nay đã thật xa!

15.10.2013

Wednesday, October 2, 2013

Rưng Rưng Phận Người




Chẳng biết có phải trời ủng hộ chúng tôi hay không, mà trong khi trời Bình Dương mưa không ngớt hạt, đoạn đường từ Bình Dương đến xã Chánh Phú Hòa, Bến Cát trời lại trong xanh, không một giọt mưa. Tỉnh lộ 751 rộng thênh thang, bằng phẳng, và vắng hoe chỉ có một dọc mấy chiếc xe của đoàn chúng tôi bon bon. Tuy nhiên đường hẹp dần, kèm theo bùn đất do ảnh hưởng của cơn mưa sáng khi chúng tôi rẽ vào cây số 16.

Trung tâm nuôi dưỡng bảo trợ người già xã Chánh Phú Hòa nằm khuất sâu giữa 2 bên vườn cao su. Anh bạn đồng nghiệp Ấn Độ đi cùng xe hỏi tôi có biết vì sao trung tâm lại nằm khuất bên trong mà không ở phía ngoài mặt tiền. Tôi trả lời giọng không lấy làm chắc chắn lắm “có lẽ do đất bên ngoài đắt, và có lẽ do xung quanh là vườn cao su người ta không muốn phá”.

Trung tâm Chánh Phú Hòa rộng thênh thang, diện tích có lẽ phải đến cả trăm hecta. Từ cổng vào là một khoảnh sân rộng để đổ xe, một sân bóng mini cỏ xanh rờn, một dãy nhà hành chính và hội trường khang trang, rồi từ đó chìa ra những lối đi nhỏ dẫn đến những ngôi nhà dài, đơn sơ, mà ban phụ trách gọi là Trại. Mỗi trại có khoảng 20 đến 30 cụ già sinh sống. Chị thư ký bảo với tôi, các cụ được Sở Lao Động Thương Binh & Xã Hội thành phố Hồ Chí Minh gửi đến sau những đợt thu gom, chủ yếu là những cụ già lang thang, không người thân, không nơi nương tựa, hoặc bị bỏ rơi ở những bệnh viện…

Chúng tôi ghé vào thăm trại của các cụ bà vẫn còn khỏe mạnh trước, rồi mới sang nhà của các cụ mất sức, khuyết tật... Căn nhà tường, chia làm 2 hồi, màu sơn cũ kỹ với những chiếc cửa sổ gỗ bạc phết không chắn song, mang cảm giác buồn buồn. Hai bệ xi măng, chiều rộng khoảng 2m, đối diện nhau áp sát tường kéo dài xuyên suốt căn phòng là nơi ngủ nghỉ của các cụ. Mỗi cụ được chia một phần diện tích 1mx2m, phân cách bằng một sọc ngăn mờ chiếu lệ. Phía bên trên gần sát trần, có một kệ sắt cũng kéo dài theo chiều dà bệ xi măng là nơi để “gia tài”: mỗi người một thùng giấy cạc-tông, vài túi sốp, vài nón lá…

Khi chúng tôi bước vào, các cụ đã ngồi sẵn ngay phần “giường” của mình, phía trước mặt là một khay nhựa, loại nhựa thường, có nhiều ô nhỏ, có lẽ dùng để đựng thức ăn hàng ngày. Tiếng vỗ tay chào mừng, rào rào đúng nhịp như đã được huấn luyện nhiều lần. Bỗng nhiên tôi thấy xốn xang, áy náy lạ lùng. Tôi nhìn những dáng ngồi nghiêng nghiêng, lặng lẽ như âm thầm cam chịu. Bất giác tôi tự hỏi chúng tôi là ai? Tuổi đời chúng tôi chẳng là bao nhiêu so với các cụ, thế mà các cụ ngồi đó, chờ chúng tôi, chào chúng tôi như thể chúng tôi là người, các cụ phải chịu ơn. Cái suy nghĩ khiến tôi ray rứt, tôi cố gắng làm mọi cách để hành động để quà lên khay của tôi không mang màu ban phát. Tôi cầm tay cụ bà khiếm thị, chạm vào những món quà tôi vừa mới đặt lên khay, “Bà ơi, đây là sữa, đây là bánh... chút quà chúng con biếu bà thêm vào bữa ăn hàng ngày”. Bàn tay gầy guộc, run run giữ tay tôi như chẳng muốn buông. Tôi nhớ bàn tay của bà tôi, cũng nắm tay tôi như thế, cũng rờ rờ vuốt ngón tay tôi như thế.

Chị thư ký đang giới thiệu về hoạt động của trung tâm mà tôi nghe dường như đang kể về nơi nào xa lạ lắm. Ở nơi tôi đang đứng đây, những chiếc “giường” xi măng chắc hẳn lạnh hơn khi mưa đến, những chiếc mền mỏng chắc chẳng ấm hơn khi gió về. Tuổi già, có lẽ lưng các cụ cần nơi ngã lưng êm hơn, phải chi có thêm tấm drap, chiếc chiếu...

Có tiếng khóc phía sau khi chúng tôi bước đi... Mưa bắt đầu lất phất hạt... Có lẽ trời cũng rưng rưng thương những phận người....

Bến Cát, 21.09.2013
 
;