Monday, June 30, 2014

Khoảnh khắc (4)

LỐI NHỚ CHIỀU MƯA

Tôi thích đi trên đường N., đặc biệt vào những buổi chiều muộn khi cơn mưa vừa dứt. Cũng chẳng vì một lý do nào đặc biệt, chỉ là cái không khí lúc ấy gợi cho tôi nhớ đến nơi này, nơi nọ, những nơi tôi đã qua, cùng một vài kỷ niệm trong quá khứ.

Những buổi chiều sau mưa, đoạn đường thường mang một mùi ngai ngái của cây cỏ. Cái mùi gợi tôi nhớ đến những tối lang thang cùng bạn qua mấy con đường dốc ngoằn ngoèo của vùng cao nguyên lộng gió. Những hàng thông rì rào cọ lá vào nhau khiến con đường dường như thêm hun hút. Dăm ba hạt mưa còn sót lại trên lá thỉnh thoảng rơi trên tóc mang lại những cơn rùng mình khe khẽ. Bạn nhét tay trong túi áo khoác của tôi xuýt xoa kêu lạnh, nhưng lại đòi đi tiếp chẳng chịu quay về.

Hoặc có buổi tối, đi học về muộn, chạy xe chầm chậm ngắm những ánh đèn đường. Cái lạnh len qua lần áo mỏng, bất chợt nhớ những buổi tối ở Provence, ở Hoorn., hay những buổi tối chui ra khỏi ga du Nord vội vã băng qua mấy góc ngã tư. Trời cũng lành lạnh như thế. Ngắm bóng bạn, bóng mình liêu xiêu trên phố, không dưng lại len lén nhớ nhà.

Cũng như buổi chiều nay tự nhiên thấy nhớ điều này, điều nọ. Như thể đang lạc trong lối nhớ và kỷ niệm như lá đong đưa.

30.06.2014

Tuesday, June 24, 2014

Chợ nổi Damnoen

Rời chợ “đường ray” chúng tôi đi tiếp sang một khu chợ khác, tuy không đặc biệt bằng nhưng vẫn không kém phần đặc sắc ở Thái Lan, đó là chợ nổi Damnoen 


Giống như phần lớn các nước nông nghiệp, nơi hệ thống sông ngòi kênh rạch phát triển, việc buôn bán của người dân Thái Lan khởi thủy cũng diễn ra trên những vùng sông nước. Nhưng, nếu như ở Việt Nam chợ diễn ra trên những con sông rộng, thì ở Thái Lan, việc mua bán giao thương lại diễn ra trên những con kênh đào. Hệ thống kênh đào chằng chịt nối liền các vùng dân cư, vừa cung cấp nước sinh hoạt, vừa phục vụ việc đi lại, giao thương. Có khá nhiều khu chợ nổi ở Thái Lan vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay, có thể kể đến như Taling Chan, Wat Sai, Damnoen Saduak. Trong đó, có lẽ chợ Damnoen Saduak là một trong những chợ nổi lâu đời nhất.

Chợ hoạt động dọc theo con kênh đào Damnoen Saduak. Kênh Damnoen Saduak với chiều dài khoảng 35km,  được xây theo lệnh của Vua Mongkut (vua Rama IV) vào năm 1866 nhằm mở rộng và kết nối lưu thông giữa 2 tỉnh Ratchaburi và Samtusakhon, đến năm 1868 thì hoàn tất và đưa vào hoạt động. Nhưng chỉ đến năm 1967, chợ nổi mới chính thức được xem như một điểm đến du lịch, và ngày nay, nơi đây thu hút đông đảo du khách đến từ khắp nơi trên thế giới.

Chợ Damnoen Saduak cách Bangkok khoảng 90-100 cây số về phía Tây Nam, thuộc địa phận tỉnh Ratchaburi, (khoảng 2 giờ đi xe, không bao gồm khoảng thời gian dừng nghỉ hay kẹt xe ;) . Chợ được ghi tên trong danh sách “Những địa danh nên đến” ở Bangkok.

Chợ nổi tiếng không chỉ có từ lâu đời, mà có lẽ còn vì nếu ai đó là tín đồ phim hành động thì có thể sẽ nhận ra một vài cảnh rượt đuổi trong phim “Hiểm Nguy ở Bangkok” (Bangkok Dangerous) với ngôi sao Nicholas Cage được quay ở đây. Hoặc xa hơn nữa, những ai không bỏ qua bất kỳ một bộ phim James Bond 007 nào từ xưa đến nay, thì cũng có thể nhận ra vài cảnh quen thuộc trong phim “The man with the golden gun” (Sát thủ với khẩu súng vàng) của những năm 1974-1975.


(Cảnh trong phim Bangkok Dangerous)

Để vào tham quan khu trung tâm chợ, du khách phải đi trên những chiếc xuồng nhỏ, bề ngang cỡ xuồng ba lá ở miền Tây Nam Bộ nhưng dài hơn, chở được tối đa khoảng 4, 5 người. Dọc đường đi khách du lịch ngồi trên xuồng, tha hồ mà xuýt xoa khi các tài công biểu diễn tài lái lụa, luồn lách điêu luyện trên những tuyến kênh, nơi rộng nhất có chiều ngang chừng hơn chục mét, nơi hẹp nhất chỉ vừa 2 chiếc xuồng ngược xuôi. Hoặc nín thở, ngồi im trong khi các “bác tài” khéo léo như đang làm xiếc bẻ lái, quẹo cua, ngoặt gấp, ở những khúc quanh hẹp.

Có thể chia đoạn đường từ ngoài vào chợ làm 4 khu vực. Đoạn đầu dễ gây cảm giác thất vọng, buột miệng mà kêu: “Ủa, chợ nổi như thế này sao?”, khi xuồng đưa du khách đi dọc theo những tuyến kênh hẹp, hai bên bờ san sát những quầy hàng bày bán những mặt hàng lưu niệm “đâu cũng có”: áo thun nhiều màu sắc, những bức tượng voi, chùa chiền, phong linh v.v...

Thế nhưng, chỉ sau một vài lần “quẹo cua”, du khách bỗng thấy lòng lắng dịu khi trước mặt mênh mông trời nước, những căn nhà lấp ló bên dòng kênh vắng lặng, thanh bình. Thỉnh thoảng vài người bán hàng rong, đội chiếc nón lá gợi nhớ đến một thời đã xa, chèo xuồng ngang qua, nở nụ cười thật tươi khi du khách đưa máy ảnh lên chụp. Xa xa vài chiếc cầu gỗ bắc ngang, khiến ai đó bỗng mơ về một Venice giữa sông nước phương Đông. Yên ả và thanh bình.

Rồi thoáng cái, khi càng đi tiếp sâu vào bên trong, cái không khí miền quê bình lặng dần biến mất, thay vào đó là cảnh tấp nập, trên bên dưới thuyền, kẻ bán người mua nhộn nhịp. Đủ loại mặt hàng. Từ thực phẩm, đồ ăn thức uống, trái cây cho đến quần áo, đồ lưu niệm. Những món đồ sang trọng bên cạnh những món đồ phảng phất hồn quê.

Dòng kênh hẹp, xuồng chen chúc. Thỉnh thoảng xuồng phải ngừng lại vì “tắc đường”. Có ai ngờ cái chộn rộn, ồn ào của chốn thị thành, cái “đặc sản kẹt xe” của Bangkok được mang về lênh đênh trên sông nước nơi đây.

Xuồng ghe nhộn nhịp






Rời chợ nổi Damnoen Saduak, chợt nhớ và thương lắm chợ nổi miền Tây quê mình.

31.07.2013

Chợ đường ray Maeklong

Chúng tôi đến chợ Maeklong tầm hơn 9g sáng. Trời nắng nhưng có lẽ gần đến giờ tàu qua nên có khá đông du khách - chủ yếu là khách phương Tây, 1 hai nhóm khách châu Á (nhìn phong cách tôi đoán có lẽ là khách Nhật, ngoại trừ các chị tôi và tôi ra, còn thì không có ai là khách Việt Nam) - đứng rải rác đợi tàu và chụp ảnh.

Chợ Maeklong thuộc tỉnh Samut Sakhon miền Tây Nam Thái Lan, cách Bangkok khoảng 70km (khoảng 1 giờ đi xe). Nhìn bề ngoài chợ cũng giống như những khu chợ truyền thống khác trong khu vực Đông Nam Á. Chợ mở ngoài trời, với những quầy sạp nho nhỏ, bày bán thực phẩm: rau, cá, thịt v.v… Cũng những tấm bạt che chắn tạm bợ. Cũng những món rau cải, trái cây, đồ khô… bày ngay dưới lòng đường.

Một góc chợ nhộn nhịp


Nhưng chợ Maeklong nổi tiếng bởi nó nằm ngay trên đường tàu hỏa… đang hoạt động, ga nằm ngay khu vực gần chợ.




Tôi cố tìm thông tin nhưng không ra :) , nên không biết đường tàu bắt đầu chạy ngang chợ thật sự có từ lúc nào, chỉ biết nó được xây dựng từ những năm 1905, và chợ thì có trước đó đã lâu. Người dân Thái gọi chợ bằng cái tên “Talad Rom Hoop”, tiếng Anh nghĩa là “market umbrella pulldown” (tôi tạm dịch: “Chợ gập/cụp dù”). Hằng ngày có 7-8 chuyến tàu 2 toa đều đặn chạy qua. Trước khi đi vào khu vực chợ, tàu dừng lại một khoảng thời gian vừa đủ để người bán dọn dẹp thực phẩm lại cho gọn (mặc dù mọi thứ vẫn bày sát ngay đường ray) và gập dù (những tấm bạt che mưa nắng) xuống. Và hú còi khi bắt đầu chạy.

Xa xa có tiếng còi tàu, người dân bắt đầu thu xếp thực phẩm đang bày bán cho gọn gàng


Dù / bạt đã được gập lại thông thoáng


Tàu chạy khá chậm [tôi nghe lỏm, trong lúc “lượn lờ” vòng vòng tìm vị trí “đẹp” để chụp hình, một anh kia (chẳng biết có phải là hướng dẫn viên không) bảo khoảng 15km/h]. Ở đây, mọi quy tắc an toàn giao thông đường sắt dường như chẳng còn là thứ quan trọng. Khoảng cách giữa thân tàu với chỗ bày bán và du khách đứng xem khá sát nhau. Tàu chạy gần như muốn cán những thứ rau củ quả nằm dưới đất, ngay đường ray.

Khi mọi thứ đã gọn gàng, tàu lăn bánh đi vào khu vực chợ


Rất chậm



Thực phẩm gần như nằm sát gầm tàu


Tôi chạy lóc cóc tìm chỗ, rồi cuối cùng quyết định đứng ngay bên cạnh “đồng chí” bảo vệ vẫy cờ để chụp hình, sau khi những vị trí tôi thấy “đẹp” đều bị “đồng chí” lắc đầu bảo “nguy hiểm” khi tôi hỏi “tui đứng chỗ này được hem?”, và những bảo vệ tự phát “bạn hàng”, hét hay lầu bầu bằng một giọng rất dữ và hành động rất ư kiên quyết kéo và đẩy những vị du khách ra khỏi “vùng cấm địa” nhưng lại là vị trí “đắc địa” cho khuôn hình.

Chờ thì lâu, kể lại cũng lâu, còn thời gian thật sự từ lúc những người bán hàng gập dù, cho đến khi tàu chạy qua, rồi dù được dựng trở lại chỉ diễn ra trong tích tắc vài phút. Khi đoàn tàu chạy qua, mọi hoạt động mua bán lại tiếp tục, người qua kẻ lại nhộn nhịp tưởng chừng như chưa hề có khoảng dừng lại bao giờ.

Mặc ai đó bảo rằng nguy hiểm, những con người đang mưu sinh nơi đây hàng ngày vẫn gập-dựng dù lại 8 lần một cách bình thản!

Mọi thứ trở lại bình thường khi tày chạy qua


Người bảo vệ tự phát, rất kiên quyết "chỉ đạo" du khách ;)


 18.07.2013

Thursday, June 19, 2014

MALEFICENT - Đừng tin vào chuyện thần tiên

Ngày quốc tế thiếu nhi, trang home FB của tôi không hẹn mà tràn ngập “new feeds” về bộ phim Maleficent. Thêm một ngạc nhiên nữa là những cảm nhận về bộ phim được post lên khá là phong phú và không trùng lặp. Có cảm nhận bàn về việc gác bỏ hận thù quá khứ hướng về tương lai tươi đẹp. Có cảm nhận nói về sự tồn tại của tình yêu chân thật. Có cảm nhận chỉ vẻn vẹn 3 từ “hay, đáng xem”. Có bạn lại bảo tôi: “cốt truyện dễ đoán”… Tất cả những điều ấy gợi cho tôi một sự tò mò vô bờ bến “Công chúa ngủ trong rừng thì có gì lạ để mà mọi người xôn xao đến vậy?”

[Tuy nhiên, nếu nói chính xác thì tôi nghe về Maleficent và “hóng” chờ ngày phim ra rạp trước đó ít nhất 1 tháng, khi những nhà làm phim bắt đầu chiến dịch quảng bá. Người ta đã úp mở về nhân vật, về vai diễn, về những chuyện bên lề v.v…]

Tiếp nối bộ phim Frozen với nhân vật cô công chúa Elsa, từ một cô công chúa bé nhỏ nhân hậu biến thành một nữ hoàng băng giá (cả về nghĩa bóng lẫn nghĩa đen), trong cơn tức giận (mặc dù là vô tình) đã đóng băng cả vương quốc, một lần nữa hãng phim Walt Disney tiếp tục bước ra khỏi lối mòn cổ tích với những câu chuyện thần tiên đẹp đẽ quen thuộc, thay vào đó họ chuyển sang xây dựng những nhân vật chính, phản diện, chất chứa nhiều uẩn ức.

Trong phiên bản Công Chúa Ngủ Trong Rừng lần này, nhân vật trung tâm không còn là nàng công chúa xinh đẹp chịu lời nguyền nữa mà Walt Disney chuyển sang khai thác kẻ đã buông lời nguyền, đó là Maleficent (Angelina Jolie thủ vai) với nhiều tình tiết mới lạ, khác với câu chuyện nhiều người đã thuộc lòng.

Chuyện kể rằng, Maleficent vốn là một cô tiên vui vẻ, nhân hậu và vị tha, cô sống tại vương quốc Moors thanh bình với những đồng cỏ xanh mướt, trải dài đến vô tận. Đó là một vùng đất tràn đầy hạnh phúc vui tươi, tin cậy mà cư dân láng giềng phải nhìn sang thèm thuồng.

Maleficent kết bạn với cậu bé nông dân tên Stefan - vốn lẻn sang vương quốc của cô để ăn trộm một hòn đá và được cô cứu khỏi sự trừng phạt của các thần cây. Tình bạn giữa cô bé tiên và cậu bé người ngày một thân thiết hơn. Qua ngày tháng, tình bạn này dần dần chuyển thành một thứ tình cảm sâu đậm hơn khi cả 2 bắt đầu bước vào tuổi thiếu niên. Một ngày nọ, Maleficent đã trao nụ hôn đầu tiên cho Stefan, người thề thốt sẽ luôn mãi yêu cô bằng một tình yêu chân thành nhất.

Khi hôn chàng trai, Maleficent không chỉ mất đi một nụ hôn mà còn mất đi nhiều thứ nữa mà sau này cô mới biết. “Bởi nụ hôn chân thành không như nó vốn phải là” - lời người dẫn chuyện đã nói như thế.

Stefan, kẻ luôn nuôi khát vọng rằng một ngày nào đó mình sẽ sống trong lâu đài bằng đá uy nghi sừng sững, đã không hề quay lại, những ngày sau đó, những năm sau đó. Trái tim trong trẻo của Maleficent bắt đầu chớm buồn. Dường như hoa cỏ vì thế cũng bớt đi tươi tắn.

Nghe được về sự trù phú yên bình của vương quốc tiên, vua xứ người nuôi âm mưu thôn tính. Một ngày nọ, hắn ta kéo đoàn quân trùng trùng điệp gươm giáo sáng quắc tấn công vương quốc Moors xinh đẹp. Tuy nhiên, với sự lãnh đạo của Maleficent, cư dân vùng đất tiên đã đánh bại đoàn quân người – cứ ngỡ là – hùng mạnh.

Hấp hối trên giường bệnh, tên vua tham lam vẫn không từ bỏ ước muốn chiếm vương quốc Moors và trả mối hận thua trận. Hắn tuyên bố sẽ trao ngai vàng cho người nào giết được Maleficent.

Nhận ra đây là cơ hội để chạm được ngai vàng, Stefan quay trở lại rừng sâu cùng với âm mưu giết Maleficent. Gặp lại Stefan, tình cảm của Maleficent dành cho hắn vẫn như xưa, cô tin tưởng và đi theo hắn lên đồi cao. Rồi khi đêm xuống, Stefan đã đầu độc Maleficent. Không đủ dũng khí để đâm chết Maleficent, Stefan cắt đôi cánh của cô mang về cho nhà vua làm bằng chứng chiến tích. Nhờ chiến công đó, Stefan đã nhận được ngai vàng.

Maleficent tỉnh dậy trong đau đớn và uất hận. Bị phản bội. Bị mất đi đôi cánh. Tiếng khóc ai oán của cô khi bình minh vừa lên như lời báo hiệu cho một sự thay đổi lớn lao, một mở màn của những bi kịch. Đó không chỉ là bi kịch đối với những người trong vòng xoáy ân oán, mà còn là bi kịch đối với chính bản thân Maleficent. Trái tim trong trẻo của Maleficent giờ chứa đầy thù hận. Bên cạnh việc dựng lên một bức tường chướng ngại vật, cách ly hoàn toàn vương quốc với thế giới bên ngoài, cô cũng bước vào hành trình trả thù vương quốc của Stefan.

Chuyện gì đến rồi cũng sẽ đến… Một ngày nọ, con quạ Diaval, con vật được Maleficent cứu sống khỏi bàn tay ác độc của con người, kẻ đồng hành thân tín của cô báo tin về buổi lễ rửa tội cho Aurora, con gái của Stefan. Thời cơ trả thù đã đến, Maleficent xuất hiện bất ngờ. Không được mời. Không được chào đón. “Ngươi không phải là bạn bè” – Stefan đã nói thế khi Maleficent đứng giữa cung điện. Maleficent đã mang tặng cho cô công chúa nhỏ một lời chúc phúc, một lời nguyền “Trước lúc mặt trời lặn vào sinh nhật thứ 16, công chúa sẽ bị con xa quay tơ đâm vào tay, nhưng cô sẽ không chết mà chìm vào giấc ngủ vĩnh viễn” … “cho đến khi cô nhận được một nụ hôn của tình yêu đích thực”… “và không gì có thể thay đổi lời nguyền này”.

Cho đến lúc này thì có vẻ như câu chuyện Công Chúa Ngủ Trong Rừng trở về đúng như những gì mà ai cũng biết, cũng đã xem rằng: Nhà vua, một mặt giao công chúa cho các bà tiên mang vào rừng nuôi nấng. Một mặt cho đốt hết tất cả các máy quay tơ trong vương quốc. Và đến năm công chúa 16 tuổi, một hoàng tử nước láng giềng ghé qua…

Nhưng… hãng phim Disney một lần nữa đã làm người xem bất ngờ với một kết thúc không như… chuyện.

Chẳng biết có phải do lời chúc phúc (1 phần trong lời nguyền) “công chúa sẽ được mọi sinh vật yêu thương” hay là vì vốn dĩ Maleficent không phải là một kẻ ác, mà là một cô tiên có trái tim nhân hậu, Maleficent đã chăm sóc Aurora (một cách gián tiếp, vì rõ ràng 3 bà tiên mà Stefan - (một cách khá là “vô trách nhiệm” theo tôi ;) – giao phó nuôi công chúa là 3 bà tiên hậu đậu và vô dụng trong việc chăm sóc đứa trẻ), cùng với thời gian, Maleficent càng ngày càng yêu quý cô công chúa nhỏ hơn. Và một lần bà đã cố thu hồi lời nguyền.

Angelia Jolie đã diễn bằng mắt rất biểu cảm trong đoạn phim này. Ánh mắt buồn bã thất vọng tột cùng sau những cố gắng thu lại lời nguyền. Ánh mắt yêu thương xen lẫn ân hận trên một gương mặt rất lạnh lùng khi ngắm Aurora vui đùa cùng các tiên. Ánh mắt vui mừng giấu trong giọng nói, vẫn là rất lạnh, khi đồng ý trước lời khẩn cầu được sống trong rừng cấm của Aurora. Maleficent những tưởng khi đồng ý cho Aurora ở lại khu rừng cấm, nghĩa là đã đặt cô công chúa nhỏ trong vùng bảo vệ an toàn của bà, đã cách ly cô công chúa nhỏ ra những nguy cơ của lời nguyền...

Thế nhưng... nếu trong đời có những chữ “nhưng” khiến mọi thứ ngoặt sang một hướng mới, thì truyện cổ tích cũng có những chữ “nhưng” cắt ngang hoặc kéo dài đường đi đến một kết thúc có hậu.

Ba bà tiên hậu đậu đã vô tình để lộ xuất thân của cô công chúa nhỏ, cùng lý do khiến cô bị giấu trong rừng và cả cái tên của người đã gây ra cái lý do ấy. Trước sự thật, có lẽ là khá phũ phàng, khi tình cảm của cô dành cho Maleficent ngày càng lớn và ngày càng khăng khít. Aurora đã bỏ chạy về lâu đài và bị con xa quay tơ đâm vào tay… đúng như lời nguyền. 

NỤ HÔN TÌNH YÊU ĐÍCH THỰC ĐẾN TỪ AI?

Trong vài dị bản truyện Công Chúa Ngủ Trong Rừng vào thế kỷ 17-18, hoàng tử đã không hôn công chúa mà nhờ một bà tiên mang 2 đứa con của nàng đến đánh thức nàng dậy (?!) . Có truyện kể, hoàng tử đã quá rung động trước sắc đẹp của công chúa đến đỗi ngã quỵ xuống bên cạnh nàng… dĩ nhiên, không kịp hôn :) .

Có một để ý thú vị rằng, gần đây Walt Disney đã thôi không kể về những câu chuyện tình yêu lãng mạn nữa mà họ trở nên thực tế hơn trong chuyện tình cảm. Nếu như trong phim Frozen, Walt Disney phủ nhận cái gọi là “tiếng sét ái tình” thì trong Maleficent, nụ hôn tình yêu đích thực, một liều thuốc đủ mạnh để phá giải lời nguyền… không đến từ tình yêu trai gái, nụ hôn đánh thức công chúa dậy không phải là nụ hôn của hoàng tử. Đó cũng là đặc trưng của những nụ hôn trong những phim cổ tích của Walt Disney: Luôn mang đầy tính bất ngờ.

Hãy thử nhớ về nụ hôn của Shrek và Fiona trong phần 1, cả hai xoay tròn bay bay trong không trung, rồi bùm một cái, Fiona không trở về hình dạng xinh đẹp của cô mà biến hẳn thành một cô chằn tinh tròn trịa xinh xinh màu xanh.

Hoặc hãy thử nhớ về nụ hôn của đầu tiên của Tiana và Naveen (lúc ấy đang trong lốt một con ếch), trong phim Công chúa và chàng Ếch. Những tưởng Naveen trở về thành người, không ngờ Tiana lại hóa luôn thành ếch.

Trong Maleficent, hoàng tử đã (bị lôi) đến bên giường của công chúa Aurora, đã cúi xuống hôn nàng… nhưng công chúa vẫn ngủ thẳng cẳng :)

Thế nụ hôn đích thực đến từ đâu? Dĩ nhiên, tình yêu. Maleficent âu sầu trong đau khổ và ân hận, nước mắt lưng tròng, hôn lên trán nàng công chúa nhỏ để vĩnh biệt. Nụ hôn của tình yêu đích thực, tình yêu của một người Mẹ dành cho con. Một tình yêu chứa đầy tình thương, che chở và bảo vệ, không dối lừa, không thù hận… có quyền năng mạnh hơn đủ để hóa giải lời nguyền.

CÓ THỂ KHÔNG, MỘT KẾT THÚC KHÁC?

Một đứa em trai tôi hỏi: Tại sao người ta không để phim kết thúc theo cách, công chúa nhỏ theo Maleficent về vùng đất thần tiên. Stefan bị bỏ lại lâu đài đổ nát, trong cô độc và ăn năn?

Tôi đáp 1 cách chắc nịch: Không.

Tôi không tin Stefan sẽ hối hận. Bởi cho dù đã thấy Aurora đã sống lại, Stefan vẫn ra lệnh cho quân lính bắt cho bằng được Maleficent. Bởi cho dù đã thấy Maleficent không đủ sức chống cự vì bị chiếc lưới bằng kim loại hoá giải hết phép thuật, Stefan vẫn muốn giết Maleficent. Bởi cho dù được Maleficent tha chết, Stefan vẫn tìm cách đâm chết Maleficent từ sau lưng.

Một kẻ 2 lần phản bội người cứu và tha chết cho mình, một kẻ đâm sau lưng người khác – những 2 lần, không chắc gì trở thành người tốt, gột bỏ hết hận thù.

Cái chết của Stefan rất giống cái chết của Gaston trong phim Giai nhân và Quái Vật, cả 2 đều đâm người từ sau lưng, nhưng sau đó bị mất thăng bằng, ngã xuống vực và chết.

Tại sao ta chấp nhận (và cho là hợp lẽ phải) cái chết của Gaston nhưng lại không chấp nhận cái chết của Stefan? Một bên, ý đồ giết người rõ ràng rất rõ: giết quái vật để giành Belle. Một bên, giết người không vì lý do rõ ràng nào cả.

CỨU VẬT VẬT TRẢ ÂN…

Không biết Walt Disney có ý đồ gì không khi xây dựng nhân vật con quạ Diaval. Một con vật vốn đại diện cho những gì xấu xa, ác độc… thế mà lại rất có tình cảm, rất trung thành và rất… tốt, sẵn sàng hy sinh thân mình để trả ơn người đã cứu mình. Có vẻ như hình ảnh con quạ Diaval là đối trọng của hình ảnh con người qua nhân vật Stefan. Một bên vật - một bên người. Một bên tốt - một bên xấu. Một bên trọng tình nghĩa - một bên vô ơn…

VÀ CUỐI CÙNG LÀ NHỮNG GÌ VỀ BỘ PHIM

Trong tuần đầu ra mắt, Maleficent đã thu về doanh thu vượt mức mà nhà sản xuất mong đợi trước đó: 70 triệu USD từ các phòng chiếu tại nước Mỹ và hơn 100 triệu USD từ các phòng chiếu quốc tế. Cho đến ngày 17/6, bộ phim đã thu về hơn 441 triệu USD, trong khi chi phí bỏ ra ước đoán khoảng 180 triệu USD. Có thể nói hoạt động marketing của đội ngũ kinh doanh phim rất bài bản và hiệu quả. 1 tháng trước ngày công chiếu, những thông tin về phim đã tràn ngập trên báo chí và mạng xã hội. Những úp mở về nội dung phim, những câu chuyện bên lề… lôi kéo tò mò. Bên cạnh đó, có thể nói sức hút của Angelia Jolie cũng góp một phần đáng kể mang đến sự thành công của bộ phim. Diễn xuất của minh tinh này quá xuất sắc, từ ánh mắt cho đến dáng vẻ, thần thái đều khiến người xem phải xuýt xoa.

Cũng phải thừa nhận, nếu không có Angelia Jolie, chắc hẳn bộ phim này không được nhiều người nhắc đến như thế, khi cả dàn diễn viên từ công chúa cho đến hoàng tử, không có ai - gọi là đẹp (hihi). Ấy là chưa kể đến tính cách nhân vật, ngoại trừ Maleficent ra, tất cả đều nhàn nhạt, như thể họ chỉ lướt qua, lướt lại làm dáng trước máy quay.

Tôi đắn đo giữa việc cho Maleficent 7 hay 8 điểm. Nếu loại bỏ việc 1 đứa em tôi đã ngủ hết 15’ giữa phim (và nghe bạn kể, một đứa bạn của nó cũng ngủ như thế). Loại bỏ luôn việc tôi nghe lỏm một người ngồi cạnh tôi ở băng ghế chờ bảo “phim đâu có hay”. Và loại bỏ luôn cả việc, một đứa trẻ nói vang giữa rạp: “Mẹ nói phim kinh dị, con có thấy kinh dị gì đâu. Phim gì chán, lung tung không hiểu gì hết” khiến cả rạp phải phì cười. Thì tôi sẽ cho phim 7.5 điểm :)

18.06.2014

Tuesday, June 10, 2014

Khoảnh khắc (3)

BÁNH CRÊPE

Cách đây 5-6 năm, tôi cùng 2 người bạn đi bụi lên Sapa. 21g leo lên xe lửa, lắc lư 1 giấc đến tầm 5-6 giờ sáng thì đến Lào Cai. Tót lên Sapa, bụng đói, đi loanh quanh một hồi, cả 3 ghé vào một quán ăn, chủ quán là một anh Tây. Thực đơn quán có món đặc biệt là bánh crêpe chuối chocolate. Đó là lần đầu tiên tôi biết đến bánh crêpe. Chẳng biết có phải tay nghề của đầu bếp, hay vì đói, vì cái không khí lành lạnh, hay vì lần đầu tiên được nếm món bánh lạ, mà tôi thấy nó mới ngon làm sao. Suốt mấy ngày lưu lại ở Sapa, 3 đứa chúng tôi, hễ có dịp là lại gọi bánh crêpe ăn. Rồi từ đó trở đi, không dưng tôi trở thành fan của bánh crêpe. Sau này thỉnh thoảng đi đây đó, tôi cũng gọi bánh crêpe mỗi khi thấy món ấy trong thực đơn. Nhưng thật sự vẫn không gặp lại vị cái món bánh của lần đầu tiên được ăn. Ngay cả lần chia với bạn cái bánh còn nóng hổi ngay dưới chân tháp Eiffel, tôi vẫn cảm thấy như còn thiếu thiếu điều gì đó.

Hôm rồi đi ăn thử ở quán C. , quán chuyên về bánh crêpe, bánh crêpe mặn lẫn ngọt. Tình cờ thôi, ấy thế mà nếm lại được cái vị thơm thơm của bột bánh nướng, bùi bùi nơi đầu lưỡi của kem, ngòn ngọt của những lát chuối lẫn với vị đăng đắng của chocolate... giống cái vị quen thuộc của 5-6 năm về trước.

Ấy rồi bất chợt nghĩ bâng quơ, nhớ câu chuyện Không Gia Đình của Hector Mallot, có cậu bé Rémi cũng thích món bánh crêpe. Nhớ cái đoạn cha dượng của cậu bé tước mất niềm vui được ăn bánh crêpe trong ngày chay.

10.06.2014
Bánh crêpe ngọt: Chuối - Chocolate và kem


Bánh crêpe mặn: Trứng, thịt hun khói, phômai



Quầy bánh crêpe dưới chân tháp Eiffel


Chuyện con nít

Đứa nhỏ con của bạn mới biết đọc chữ nên ham đọc. Hễ gặp chữ là nó đọc. Đọc rồi hỏi. Có hôm đang ngừng ở đèn đỏ, nó đọc biển cổ động bên đường, rồi quay qua hỏi mình: "Dì ơi, đường tình dục là đường gì?". Mình ú ớ: "Ờ, ờ... đó là một loại đường". Nó gật gù, rồi hỏi tiếp: "Còn bao cao su là bao gì, vậy dì?". Mình ậm ừ: "Ờ, ờ... đó là một loại bao làm bằng cao su". Nó nói: "Con nghe cô giáo dạy nên hạn chế dùng bao ni-lông để bao vệ môi trường, mà sao ở đây người ta lại kêu phải nên dùng bao cao su. Vậy bao cao su là bao tốt cho môi trường hả dì?". Mình cắn môi: "Ờ..ờ"

(Hy vọng nó không về nói với ba mẹ nó dì H. nói dùng bao cao su tốt cho môi trường =))) )

09.06.2014

Sunday, June 8, 2014

Đảo

Hôm trước tui đọc báo, nghe nói cô ra quyển sách mới. Tui vốn "ưa chuộng" sách của cô, mặc dù gần đây sự "ưa" đó có phần phai lạt nhiều. Lần này cũng vậy, tui ngần ngừ vì cái tựa sách, bởi tui không ưa chuyện chính trị, mà cái tựa sách lần này của cô nó lại đầy ắp âm thanh, hình ảnh ấy.

Nhưng rồi tui cũng mua. Chậc, vì tui muốn kệ sách của tui, phần ngăn sách của cô không bị thiếu.

Tui không vội đọc những truyện khác trong quyển sách, mà tui vội vàng mở ngay đến cái trang truyện mà cô đã chọn đặt tên chung cho quyển sách.

Tui thất vọng. Bởi tui thấy hóa ra mọi việc cũng thường, cô không khác gì những người khác, vẫn chạy theo đám đông và rồi lẫn vào đám đông.

Cái vùng đất mà cô gọi là "Đảo" ấy, người quê gọi là cồn hay hòn. Tui đoán cô cũng biết điều ấy, bởi xuyên suốt truyện, cô cũng gọi nó là hòn. Thế mà đùng một cái, cô cho nó cái tựa là "Đảo". Rồi mang luôn ra làm tựa sách.

Tui đã cười khan một tiếng khi đóng quyển sách lại. Có lẽ cô chọn cái tựa ấy vì nó giúp cô không khác đám đông... thời cuộc!

07.06.2014


Tuesday, June 3, 2014

Nghĩ về đề thi văn tốt nghiệp

Em hỏi khí không phải, chỉ là giả dụ thôi.

Nói về cái đề văn tốt nghiệp ngày hôm qua, nếu có em nào đó làm bài, đại khái:

"Gia đình em là gia đình liệt sĩ, có công với cách mạng, mấy đời là chiến sĩ. Ông Nội em hy sinh trong kháng chiến chống Mỹ. Ông của Bà em hy sinh trong kháng chiến chống Pháp. Bản thân Bà em cũng được vinh danh là Bà Mẹ Việt Nam Anh Hùng, là con của một thương binh hạng nặng. Bố em, các bác các chú em đều là bộ đội Cụ Hồ, nên em hiểu, "chiến tranh không phải trò đùa" (lời trong một bài hát của nhạc sĩ Phạm Minh Tuấn, phỏng thơ của nhà thơ Nga Elena Superman), nó không phải là trận đánh giả mà trẻ con hay chơi. Mà chiến tranh là đau thương, là chết chóc, là ly biệt, là những nỗi buồn, nỗi đau khổ, và cả những khắc khoải đợi chờ...

Em không thích chiến tranh. Em không thích đánh nhau. Em yêu hòa bình.

Thế giới có các tổ chức bảo vệ hòa bình, như Hội đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc là tổ chức duy trì hoà bình và an ninh quốc tế. Thế giới cũng có luật pháp để duy trì quan hệ giữa các nước.

Tại sao chúng ta không giải quyết mâu thuẫn giữa các quốc gia bằng đối thoại song phương, đa phương?

Với học vấn và tuổi đời chưa nhiều, em chưa đủ kiến thức để tham gia bình luận hay bàn về chính trị hay đường lối quốc gia.

Em chỉ nhìn vào những đau khổ mà chiến tranh gây ra cho bà em, cô em, bác em, nhìn vào những mất mát mà người lớn trong gia đình em đã trải qua để nói lên suy nghĩ của mình, rằng CHIẾN TRANH KHÔNG PHẢI TRÒ ĐÙA"

v.v...

Đại khái bài làm như vậy, thì bài của em ấy có bị cho là lạc đề không? Có bị chấm điểm thấp? vì đã đi ngược lại những gì mà giáo viên và hội đồng chấm thi mong đợi, lệch xa với nội dung ghi trong thang điểm chấm thi.

Em chỉ giả dụ và hỏi thế thôi. Vì em thấy cái điểm văn cứ tưởng là đơn giản ấy nó quan trọng lắm. Nó có thể biến một em học sinh học lực Giỏi thành một đứa ra đời với cái bằng tốt nghiệp PTTH "Trung Bình" nếu điểm văn thấp. Nó có thể đóng sập cánh cửa tương lai của một đứa học trò vô tội.

Bắt một đứa trẻ, vừa mới hay chưa kịp trưởng thành, chưa định hình suy nghĩ hệ thống về chính trị... giải quyết một vấn đề mà ngay cả người lớn vẫn chưa thống nhất cách giải quyết, cả thế giới vẫn còn đang luận bàn. Và đặc biệt là bắt tương lai của nó phải chịu trách nhiệm với những việc vượt quá kiến thức, quá tầm hiểu biết.. Em thấy có điều gì đấy không nhân bản cho lắm!

03.06.2014

Monday, June 2, 2014

Amour - Câu chuyện tình yêu



Cho dẫu có bỏ qua cái tựa phim rặt Pháp, thì Amour vẫn là một bộ phim Pháp điển hình: Chậm, không nhiều kỹ xảo, trái lại nhiều triết lý, không nhiều nhân vật, hình ảnh và lời thoại chắt lọc. Ít nhạc, hầu như không có nhạc nền.

Amour, đúng như tên phim, là một câu chuyện tình yêu. Tình yêu của một cặp vợ chồng lớn tuổi, Georges và Anne, cả hai vốn là giáo viên dạy nhạc. Họ sống cùng nhau trong một căn hộ, có thể nói là cổ nhưng khá sang trọng ở Paris. Thế rồi, một hôm, Anne bị đột quỵ. Căn bệnh khiến bà bị liệt nửa người, phải ngồi xe lăn, chỉ sử dụng được một tay, không thể dùng dao cắt thức ăn, rồi dần dần nằm liệt trên giường với ánh mắt đờ đẫn, mất đi nhận thức. Hầu như mọi sinh hoạt thường ngày của bà đều phụ thuộc vào ông Georges.

Mặc dù không nói ra cụ thể trong phim, nhưng dáng đi với một bên chân lê chậm,  có thể ngầm hiểu  Georges cũng không phải là người khỏe mạnh, cùng với tuổi già đã khiến ông trở nên chậm chạp hơn, thế nhưng những khó khăn bất tiện ấy không hề làm giảm đi tình yêu và lòng tận tụy của ông đối với vợ. 

Không phải do bởi người ta vốn ít nói về sự hy sinh của đàn ông, nên sự hy sinh của Georges bỗng trở thành cao cả mà rõ ràng từng hành động chăm sóc, sự nhẫn nại của Georges dành cho người vợ tràn đầy tình thương yêu. Hình ảnh Georges ngày ngày cần mẫn ngồi đọc báo cho Anne, run rẩy và cực nhọc nâng vợ ngồi lên ghế, ôm chặt dìu vợ từng bước đi từ phòng này sang phòng khác, ân cần cắt thức ăn, rồi giúp vợ tắm gội, làm vệ sinh cá nhân… có lẽ khiến người xem phải rơi nước mắt.

Amour là phim nhưng như thể không phải là phim như thể người ta đặt một máy quay ở một góc nhà ghi lại tất cả những sinh hoạt thường ngày của nhân vật với những tình huống có thật ngoài đời được, từ việc chuyện trò, ăn uống, vệ sinh tắm táp, cạo râu, ngủ nghỉ… (nói theo ngôn ngữ quảng cáo, nó thuộc thể loại slice of life). Hai diễn viên diễn cứ như không diễn, ánh mắt, câu nói, hành động… cứ như đó chính là những gì họ làm trong cuộc sống thật của họ ngoài đời. Có lẽ do vậy mà phim chậm, khá chậm, hai nhân vật chính đều là người già nên động tác của họ rất chậm rãi. Và hẳn nhiên, dễ khiến những ai thích cảnh hành động, thích không khí phim nhanh, thích những bộ phim mang tính giải trí… cảm thấy chán ngán và ru ngủ.

Nhưng rồi khi người xem bắt đầu gà gật, cơn buồn ngủ dâng lên cực độ thì đạo diễn cũng liền tung ra cú quyết định.

Georges và Anne cứ lặp đi lặp lại những việc quen thuộc như vậy cho đến một ngày, khi Anne đã mất dần ý thức, không thể cử động, Georges cố gắng cho bà uống sữa, nhưng bà từ chối, bất ngờ Georges đã tát Anne.

Cái tát khiến cho chữ amour – tình yêu đột ngột chao đảo trước muôn vàn câu hỏi. Đó phải chăng là cái tát của sự hoang mang bất lực chất chứa bao ngày? Hay phải chăng sự héo mòn, mệt mỏi ngày một dâng cao vì phải chịu đựng một người vợ bệnh tật đã áp đảo tình yêu? Hay đó là cái tát của sự lo sợ mất người mình yêu?

Phim có một kết thúc không theo lệ thường mà ta vẫn thấy ở những phim Mỹ, nơi tình yêu luôn đuợc vẽ bằng  những mỹ từ. “Trong thế giới này không có gì là chắc chắn cả, ngoại trừ cái chết”, Benjamin Franklin đã từng nói như thế, phải chăng đạo diễn người Áo Michael Haneke đã dùng bộ phim để chứng minh điều đó?

Georges đã (giết) Anne sau khi an ủi Anne bằng câu chuyện mà trước đây bà đã từng muốn nghe ông kể về tuổi thơ của ông.

“Cuộc đời quá dài”, Anne đã từng nói thế khi họ cùng ngồi xem album gia đình. Tôi không muốn gọi hành động của Georges là hành động giết người, mà đó là “cái chết êm ái”. Và tôi tin, cái chết mà Georges mang đến cho Anne chính là một sự giải thoát. Bởi tình yêu không chỉ là sự sống, mà còn là cái chết, là hờn giận lẫn yêu thương, là kiên nhẫn và chịu đựng, trên hết thảy nó là tình và yêu!

(Bộ phim đoạt giải Cành Cọ Vàng, năm 2012. Phim nói tiếng Pháp, tương đối dễ nghe)

02.06.2014
 
;