Showing posts with label Doc duoc tu xung quanh. Show all posts
Showing posts with label Doc duoc tu xung quanh. Show all posts

Thursday, February 29, 2024

Linh Tinh Ngày Nhuận

1. "Bắt thang lên hỏi Ông Trời"

Trái đất mất khoảng 365,242189 ngày - hoặc 365 ngày, 5 giờ, 48 phút và 45 giây để quay 1 vòng quanh mặt trời. Tuy nhiên, theo lịch Gregory (lịch chúng ta đang dùng), một năm chỉ có 365 ngày. Nếu không thêm 1 ngày vào, thì mỗi năm, chúng ta mất đi gần 4 tiếng. Sau 1 thế kỷ, sẽ mất đi 24 ngày.

2. Ai là "Bố" và "Cha" đẻ?

Khái niệm "năm nhuận/nhuần" được Đại đế La Mã Julius Caesar đưa ra vào năm 46 trước công nguyên. Khi đó, quy tắc tính chỉ đơn giản là năm nào chia hết cho 4 thì được xem là năm nhuận/nhuần. Quy tắc này lấy một năm trung bình dài 365,25 ngày. Sự dôi ra của khoảng 0,0076 ngày trong mối quan hệ với năm xuân phân, có nghĩa là ngày xuân phân sẽ dịch chuyển lên sớm hơn trong lịch này cứ sau mỗi 130 năm. Thành ra có quá nhiều năm nhuần 😋....

Cho nên (mãi) sau đó 1.500 năm, tức vào năm 1582, Đức Giáo Hoàng Gregory XIII đã xây dựng lại bộ lịch (lịch Gregory). Trong bộ lịch mới, Giáo Hoàng đã thực hiện 1 điều chỉnh "nho nhỏ", năm nhuần sẽ là năm chia hết cho 4 và không chia hết cho 100. Quy tắc này tính một năm trung bình dài khoảng 365,242222... ngày. Sai số thời gian rất nhỏ (trên 0,0001 ngày) sẽ tích lũy đủ một ngày trong khoảng 8.000 năm.  Con số 365,242222 này xấp xỉ gần đúng với một năm chí tuyến trung bình, giữ ngày xuân phân rơi đúng hoặc sát với ngày 21 tháng 3. Và cả làng cùng vui vẻ 😋

3. Ngày nào là ngày nhuận?

Lịch Gregory, suy cho cùng dựa trên lịch Julius. Và lịch Julius (lịch La Mã) có nguồn gốc là lịch Mặt Trăng, cho nên số ngày và tên gọi mỗi ngày của tháng được phân bổ theo ba pha của chu kỳ Mặt Trăng: trăng mới (calends, từ đó có từ "calendar" nghĩa là lịch), trăng non - tầm 9 ngày trước trăng tròn (nones) và trăng tròn (ides). Theo học giả Sacrobosco (thế kỷ 13) thì sơ đồ nguyên thủy của các tháng trước lịch Julius là rất đều, xen kẽ các tháng dài (bắt đầu là tháng 1 - 30 ngày) và ngắn (29 ngày), khi đó 1 năm tổng cộng chỉ có 354 ngày.

Ngày dư ra (ngày nhuận) nguyên thủy được gọi là ante diem sextum calendas martii "ngày thứ sáu trước lịch của tháng 3" rơi vào ngày 24 tháng 2.

Lịch của Caesar đã thêm ngày nhuận vào sau ngày 23 tháng 2 bằng cách kéo dài ngày 24 tháng 2 lên 48 giờ, và gọi đây là "ngày thứ sáu thứ hai trước lịch của tháng 3" (bissextus - tiếng Latin bis = "thứ hai" + sextus = "thứ sáu"). Cho nên, ngày nhuận, năm nhuận tiếng Anh còn được gọi là "bissextus/bissextile day/year" và tiếng Pháp thì giữ luôn nguyên mẫu Latin "Année bissextile / Le jour bissextile".  

Sacrobosco cho rằng khi đưa ra bộ lịch, Julius Caesar đã thêm 1 ngày vào mỗi tháng, ngoại trừ tháng Hai, tổng cộng là có thêm 11 ngày nữa, tạo ra năm có 365 ngày. Khi đó, số ngày mỗi tháng tuần tự là tháng 1 - 31, tháng 2 - 29, 31, 30, 31, 30, 31, 30, 31, 30, 31, 30. Vào năm nhuận, tháng 2 sẽ là 30 ngày.

Tuy nhiên, sau đó, người kế vị ông là Caesar Augustus lên ngôi, để biểu hiện sự uy nghiêm cũng như muốn lưu danh sử sách, Augustus đã quyết định lấy 1 ngày của tháng Hai bù đắp vào tháng Tám, tháng sinh nhật của ông rồi đặt tên là August. Cho nên, cuối cùng chúng ta có 1 bộ lịch có phần lộn xộn (với 2 tháng 7, 8 liên tiếp có 31 ngày, và tháng 2 hụt 2 ngày) như hiện nay 31, 28 (hay 29), 31, 30, 31, 30, 31, 31, 30, 31, 30, 31.

Tuy nhiên, không phải nước nào cũng ngay lập tức áp dụng bộ lịch Gregory, cho mãi đến những năm 1700, nước Anh mới áp dụng lịch Gregory này, và đến năm 1752, luật pháp Anh quyết định chọn ngày 29 tháng 2 là ngày nhuận.

4. Biểu tượng ngày nhuận

Google Doodle hôm nay đã để biểu trưng của ngày hôm nay là hình một con ếch. Sở dĩ là con ếch có lẽ là do hình ảnh con ếch phóng về phía trước giống như việc phóng qua khoảng cách 4 năm 1 lần


5. Phụ nữ được phép cầu hôn

Như trên có nói, cho đến trước thế kỷ thứ 5, năm nhuận vẫn chưa được luật pháp Anh công nhận, cho nên mọi việc diễn ra trong ngày nhuận này là vô nghĩa trước pháp luật. Có lẽ là bức xúc (hehe), Nữ hoàng Margaret của Scotland đã thông qua đạo luật cho phép phụ nữ được cầu hôn nam giới trong năm nhuận và xử phạt nếu người đàn ông phá vỡ ước định hôn nhân trong năm nhuận này.

Một truyền thuyết khác kể rằng, vào thế kỷ thứ V khi một nữ tu sỹ người Ireland tên là St Bridget đã phàn nàn với thần hộ mệnh của nước này, thánh Patrick về việc người phụ nữ phải đợi chờ quá lâu để "nửa kia" nói lời cầu hôn. Thánh Patrick sau đó đã quyết định chọn ngày 29/2 là ngày cho phép người phụ nữ có thể "cầu hôn" với nam giới để đi tới bến bờ hạnh phúc.

Theo báo The Mirror, ở Đan Mạch, nếu người đàn ông từ chối lời cầu hôn của cô gái vào ngày 29/2, anh ta phải đền cho cô ấy hàng chục đôi găng tay. Còn ở Phần Lan, thì quý ông đó phải đưa cho người cầu hôn bị hắt hủi 1 số lượng vải đủ cho cô ấy may váy.

(Lụm từ tùm lum nguồn)


Friday, December 15, 2023

Quảng Lăng Tán

Trong phim Ninh An Như Mộng, ở tập 17 trước khi 2 cha con Dũng Nghị hầu Yên Mục và Yên Lâm bị Tiêu Viễn giải đi, Yên Mục đã yêu cầu Tạ Nguy đàn bài “Quảng Lăng Tán” này. Và ở tập 20, khi 2 cha con nhà họ Yên bị giải đi đày, Tạ Nguy đã ngồi ở cổng thành đàn khúc Quảng Lăng Tán đưa tiễn.

Trước Ninh An Như Mộng, Quảng Lăng Tán cũng đã xuất hiện vài lần trong tác phẩm văn học.

Trong Truyện Kiều của Nguyễn Du, lần cuối cùng Kiều đàn cho Kim Trọng nghe sau mười lăm năm tái hợp, Nguyễn Du viết

Kê Khang này khúc Quảng Lăng
Một rằng lưu thủy, hai rằng hành vân

Thú vị hơn nữa, Quảng Lăng Tán không ngờ lại là cảm hứng của khúc Tiếu Ngạo Giang Hồ trong truyện Tiếu Ngạo Giang Hồ.

Trong chương 27, Kim Dung tả:

Lưu Chính Phong nói:

– Lệnh Hồ hiền điệt, khúc nhạc kỳ lạ này không những là tất cả tâm huyết của hai chúng ta tạo nên mà lại có liên quan đến một vị tiền nhân. Trong “Tiếu ngạo giang hồ” có đoạn viết cho đàn là do Khúc đại ca dựa vào khúc “Quảng Lăng tán” của Kê Khang đời Tấn mà cải biên thành.

Đối với chuyện này, Khúc Dương rất đắc ý. Lão mỉm cười nói:

– Ngàn xưa đã tương truyền, sau khi Kê Khang chết, khúc “Quảng Lăng tán” không còn nữa. Tiểu huynh đệ có đoán ra ta kiếm được nó từ đâu không?

Lệnh Hồ Xung nghĩ thầm: Đạo lý của âm luật ta chẳng hiểu một chút nào cả, huống hồ hai người này hành sự không giống ai, ta làm sao mà đoán được. Hắn bèn nói:

– Xin tiền bối chỉ giáo cho.

Khúc Dương cười nói:

– Kê Khang là người có tính cách rất đặc biệt. Sử thư khen Kê Khang là “Văn từ trang nghiêm, từ thuở trẻ đã thấm nhuần tư tưởng của Lão Trang”, tính cách của Kê Khang rất hợp với ta. Chung Hội lúc đó làm quan lớn, ngưỡng mộ danh tiếng của Kê Khang tìm đến thăm; Kê Khang cứ chuyên chú đánh kiếm, không cần biết đến sự có mặt của Chung Hội. Chung Hội muốn hỏi một điều nhưng không còn hứng thú nữa, bèn bỏ đi. Kê Khang hỏi Chung Hội: “Ngươi nghe cái gì mà đến, đã thấy cái gì mà đi?” Chung Hội nói: “Ta nghe cái đã nghe mà đến, thấy cái đã thấy mà đi”. Chung Hội được coi là một kẻ sĩ thông minh tài trí, nhưng đáng tiếc tính tình lại nhỏ nhen, vì chuyện này mà ấm ức trong lòng, sàm tấu Kê Khang với Tư Mã Chiêu. Tư Mã Chiêu bèn bắt Kê Khang đem giết. Lúc Kê Khang sắp bị hành hình bèn gảy lên một khúc nhạc tràn đầy khí phách, nhưng Kê Khang lại nói: “Quảng Lăng tán từ đây không còn nữa”. Người hậu thế nghe được câu nói này. Nên nhớ rằng khúc nhạc này không phải do Kê Khang sáng tác. Kê Khang là người đời Tây Tấn, khúc nhạc này sau đời Tây Tấn thì bị thất truyền, như vậy nó phải có trước đời Tây Tấn chứ?

Lệnh Hồ Xung không hiểu bèn hỏi:

– Trước đời Tây Tấn ư?

Khúc Dương nói:

– Đúng vậy. Ta không phục câu nói của Kê Khang, bèn tìm cách đi quật mộ phần của hoàng đế và đại thần hai triều Tây Hán và Đông Hán. Liên tục quật hai mươi chín ngôi mộ cổ, tới ngôi mộ cuối cùng ở Thái Ưng thì ta tìm được khúc phổ “Quảng Lăng tán”.

Lão nói xong cười ha hả, rất lấy làm đắc ý.

Và trong chương 26, thậm chí, Kim Dung viết rằng, Quảng Lăng Tán không hay bằng khúc Tiếu Ngạo Giang Hồ

Khúc Dương nghe vậy thở dài, nói:

Ngày xưa, Kê Khang lúc sắp bị hành hình còn gảy khúc nhạc “Quảng Lăng tán” bi ai rồi từ đó cung đàn này không còn tồn tại trên thế gian. Ha ha, khúc “Quảng Lăng tán” tuy tinh diệu nhưng bì sao được với khúc “Tiếu ngạo giang hồ” của hai chúng ta?

‘Quảng lăng tán' là một khúc bi thương, ai oán. Nó được xem là một trong “Trung Hoa thập đại danh khúc" để đời cho hậu thế.

"Quảng lăng tán" gắn liền với hai câu chuyện, chuyện của thích khách Nhiếp Chính thời Chiến Quốc và chuyện của Kê Khang thời Ngụy Tấn (Trong các điển cố, thì câu chuyện gắn với Kê Khang được nhắc nhiều hơn).

Cha của Nhiếp Chính vì Hàn Vương mà đúc kiếm, do trễ ngày giao kiếm đã bị thảm sát, Nhiếp Chính vì trả thù cho Cha mà đã luyện đàn mười năm, nổi tiếng khắp nơi, được Hàn Vương triệu vào đàn. Nhiếp Chính nhân cơ hội này giết chết Hàn Vương rồi hủy dung tự tử để khỏi liên lụy thân nhân.

Sau cái chết của Nhiếp Chính khúc nhạc Quảng lăng tán thất truyền cho tới tận 600 năm sau, đời Ngụy Tấn, khúc nhạc tuyệt luân này một lần nữa được cất lên. Đương thời họ Tư Mã đang tiếm quyền Tào Ngụy, Kê Khang, một nhạc gia nổi tiếng trong nhóm "Trúc Lâm thất hiền", tài giỏi nhưng tính cương quyết đứng về phía nhà Ngụy một mực tỏ thái độ không hợp tác với họ Tư Mã. Năm 262 sau Công Nguyên, Kê Khang vì tội làm loạn triều chính đã bị chặt đầu giữa chợ, trước khi chết ông đã tấu khúc "Quảng lăng tán" một lần cuối cùng rồi thốt lên rằng: "Quảng Lăng Tán từ này thất truyền!"

15.12.2023

(Đọc và tổng hợp)

Sunday, June 12, 2022

Trên Cầu - Yevgeny Yevtushenko

Người đàn ông và người đàn bà
Với chiếc cầu sông Seine mơ ngủ
Chiếc cầu đứng trên mọi điều chen chúc
Đứng trên những đốm lửa phù hoa

Ở diễn đàn nào, ai đang đọc diễn văn?
Ở đâu nữa, đang đổi thay chính phủ?
Nhưng hai người ở đây cần nhiều chi lắm nữa
Họ chỉ như sông Seine thả gợn sóng mơ hồ

Họ đứng đó suốt đêm, không nói một lời
Cũng không cả hôn nhau, áo mưa dầm thấm nước
Như hai tặng vật mỏng manh thắm thiết
Món quà bọc ni-lông do tạo vật sinh ra...

Họ đứng bên nhau, không vụ lợi, không nhà
Không bám mọi tiện nghi
Làm con người xuẩn ngốc!

...Anh cầu mong
Hai chúng mình giống họ
Biết yêu nhau
Cao tít tắp trên cầu
Được khắc họa bóng mình vào ánh sáng
Trải đời mình trong sóng nước dài lâu

Đứng trên hết
Phù hoa và giả dối
Mãi thiêng liêng
Như bản chất cây cầu

(Bằng Việt dịch)

Friday, August 27, 2021

Môn Đăng Hộ Đối

Theo Thuyết văn giải tự, chữ Môn (門) được ghép thành từ 2 chữ Hộ (戶) đối nhau. 門當: môn đăng.

Còn hai trụ đá gắn ở hai bên bậc cửa của những tòa biệt phủ của các bậc vương tôn, quý tộc, hào phú… gọi là "hù duì" (户 对: hộ đối).

Diễn đạt theo ngữ pháp xưa “門當戶對” sẽ là “Môn đang hộ đối”, có thể hiểu một cách mộc mạc là hai bên có cân đối thì khi khép lại mới kín kẽ, mới là cái cửa. Nhưng trong thuật ngữ kiến trúc và xây dựng cổ thì “môn đang” và “hộ đối” là hai bộ phận cấu thành của một cửa lớn. Phân tích ra sẽ thấy nội dung rộng lớn hơn nữa, chứ không chỉ là sự vừa khít của hai cánh cửa.

Môn đang” là phần bục đỡ trụ gỗ hai bên cửa nên còn thường được gọi là “môn chẩm thạch” (gối đá của cửa), “môn đôn” (đôn của cửa), “môn đài”, “môn cổ” (trống của cửa). Thời xưa, vì thấy tiếng trống vang đội uy nghiêm, như tiếng sấm sét trên Thiên đình, người dân tin rằng trống có thể tránh được ma quỷ, nên cho đặt cái môn đang như dạng chiếc trống trước cửa nhà.

Không phải nhà ai cũng được phép dùng môn đang, mà phải quan lớn từ tam phẩm trở lên mới được dựng cửa hai cánh và bày nó. Quan văn thì môn đang có hình tròn, quan võ thì môn đang có dạng vuông. Nếu như “môn đang” khắc cỏ cây hoa lá thì là dinh thự của gia đình kinh doanh buôn bán. Nếu để trơn không khắc hoa lá thì là dinh thự quan lại. Nếu “môn đang” là hình linh vật tọa trên bục vuông thì là dinh thự quan văn. Quan tòng tam phẩm thì có hai môn đang, chánh tam phẩm được bốn, nhị phẩm được sáu, nhất phẩm được tám. Và duy chỉ cung vua mới được bày chín môn đang. Do đó, cứ đếm môn đang là biết nhà của đại quan cỡ nào, và căn cứ vào hình dạng của nó mà suy ra là quan văn hay võ.  

Quan từ tam phẩm trở xuống thì ở thanh đà phía trên khung cửa nhà được đặt đôi trụ hình tròn nhô ra khoảng một tấc, gọi là “hộ đối”. Hộ đối đặt trên cửa là ngụ ý gia tộc hưng vượng. Tùy phẩm hàm mà có hộ đối nhiều ít khác nhau.

“Hộ đối” là những khối kiến trúc hình tròn, hình vuông hoặc hình lục giác với chiều dài 1 thước (33,3 cm) nằm trên đà cửa (mi cửa), song song với mặt đất. Thường được chạm khắc 4 mùa hoa lá, hoặc các chữ “Đức”, “Phúc”, “Lộc”, “Thọ”, “Bình an cát tường”, với ngụ ý cầu nhân khí thịnh vượng, hương hỏa vững bền.

“Hộ đối” thể hiện địa vị, đẳng cấp của gia chủ. Nếu chủ hộ là thường dân thì có một đôi, nếu là phú hộ hoặc quan lại thì hai đôi, nếu là hoàng thân quốc thích thì nhiều hơn nữa… cửa càng rộng thì càng nhiều. Lại có câu tục ngữ: “Thành cặp thành đôi”, chữ “đôi” và chữ “đối” là đồng âm khác nghĩa, nên “hộ đối” lại mang thêm một nghĩa bóng khác là thành đôi, xứng đôi. 

Người xưa quan niệm, thân thể người là một tiểu vũ trụ. Trời đất cùng với con người hòa hợp thành một thể thống nhất “Thiên Nhân hợp nhất” (người – trời hợp nhất). Theo đó, nhân duyên là do Trời định nên hôn nhân theo ý mẹ cha, dựa vào mai mối. Trước khi người mai mối ngỏ lời thường quan sát kỹ lưỡng kích thước trang trí của “môn đang” và số lượng “hộ đối” của hai nhà.

Ngoài ra, trên cơ thể người cũng có Môn đang Hộ đối. Một số huyệt vị cũng dùng "Môn" và "Hộ" để đặt tên. Huyệt vị lấy “Môn” để đặt tên đều là chỉ những đầu mối then chốt lớn nơi ra vào khí cơ của thân thể, chúng có tác dụng chủ yếu trong việc khai thông nối liền âm dương: ví dụ như Chương Môn là Hội của nội tạng, Huyệt ở đầu xương sườn tự do thứ 11, là cửa cho khí của Ngũ tạng xuất nhập. Khi người ta tức giận, Chương Môn sẽ đau. Chúng ta có thể dùng mồi ngải cứu vị trí này khoảng 10 phút, sẽ thuyên giảm. Mát-xa huyệt đạo này có thể hỗ trợ trị liệu các chứng đau tức ngực, chướng bụng, nôn mửa, tiêu chảy, tiêu hóa kém…

Trên đường Kinh phế cũng có 1 huyệt quan trọng là Vân môn, vân chỉ hơi nước, môn chỉ nơi ra vào. Dưới Trung Phủ có Khí hội, nó bờ dưới xương đòn gánh, nơi chỗ lõm ngang cơ ngực to, giữa cơ Delta, nơi có gian sườn 1, cách đường ngực 6 thốn

Còn trong hôn nhân thì “Môn đang hộ đối” có nghĩa đen là sự phân biệt quan chức cao thấp, và nguyên nghĩa là con nhà trọng thần có môn đang thì chỉ nên phối ngẫu với nhà có môn đang. Và tương tự, con em nhà quan nhỏ chỉ có hộ đối thì chỉ nên gả cho nhà có hộ đối, môn đang không thể cùng hộ đối cưới gả lộn xộn. Thành ngữ này có hai vế, lâu nay nhiều người vẫn tưởng là hai vế này kết hợp với nhau, nhưng thật ra lại là tách biệt, mỗi kiểu người ở mỗi vế trong câu tự tìm đối tượng bằng vai phải lứa với mình. Bởi theo nhận định của người xưa, vợ chồng về căn bản phải có cùng hệ quy chiếu mới có thể hòa hợp lâu bền. Người không cùng đẳng cấp sẽ có quan điểm bất đồng, dễ tạo nên xung đột khiến đời sống hôn nhân trở nên trục trặc, thành gánh nặng trong đời.

Theo âm dương ngũ hành, tính cách, năng lực, xu thế đời người đều có quan hệ mật thiết tới giờ, ngày, tháng, năm sinh. Nếu bát tự phù hợp thì đặc trưng sinh mệnh hai bên có thể bao dung lẫn nhau. Còn về phương diện tương xứng giữa hai bên gia đình thì xem xét “môn đang, hộ đối”. Có thể nói người xưa xây dựng hạnh phúc hôn nhân dựa trên nền tảng khá vững chắc.

Tuesday, May 25, 2021

Ngô Thụy Miên và Những Bản Tình Ca

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên sinh năm 1948 tại Hải Phòng. Khi được 6 tuổi, cả gia đình Ngô Thụy Miên chuyển vào Sài Gòn định cư. Hiệu sách Thanh Bình của người cha, đã khơi dậy và nuôi dưỡng tình yêu nghệ thuật đối với Ngô Thụy Miên. Sau một thời gian theo học nhạc với nhạc sĩ Đỗ Thế Phiệt và nhạc sĩ Hùng Lân, chàng trai Ngô Quang Bình dùng bút danh Đông Quân để tập tành sáng tác. Sau một thời gian, bút danh Đông Quân được đổi thành bút danh Ngô Thụy Miên.

Cơ duyên nào để Ngô Thụy Miên viết tình ca? Đó là bóng hồng Đoàn Thanh Vân, mà Ngô Thụy Miên hạnh ngộ ở Trường Âm nhạc Sài Gòn. Người đẹp Đoàn Thanh Vân là con gái của tài tử Đoàn Thanh Mậu nổi tiếng bậc nhất Sài Gòn thập niên 1960. Hình ảnh Đoàn Thanh Vân đã khiến trái tim Ngô Thụy Miên rung động, và chàng trai 17 tuổi đã viết ca khúc đầu tay “Chiều nay không có em” thay cho lời tỏ tình: “Không có em đời mình, sao vắng vui/ Cuộc tình như lá khô mộng mơ cơn mê chiều/ Không có em đôi mắt buồn nào đợi chờ/ Xin cho nhau lời vỗ về, sao đành quên đi ngày tháng đó”.

Bắt đầu hẹn hò với Đoàn Thanh Vân, Ngô Thụy Miên viết tiếp ca khúc “Mùa thu cho em” rạo rực: “Nắng úa dệt mi em/ Và mây xanh thay tóc rối/ Nhạt môi môi em thơm nồng/ Tình yêu vương vương má hồng/ Sẽ hát bài cho em, và ru em yên giấc tối/ Ngày mai khi mưa ngang lưng đồi/ Chờ em, anh nghe mùa thu tới”.

Ngô Thụy Miên rất hâm mộ dòng nhạc tiền chiến, nên những ca khúc khởi nghiệp của Ngô Thụy Miên có màu sắc tương đối giống lớp nhạc sĩ tiền bối. Tuy nhiên, sau một loạt ca khúc phổ thơ Nguyên Sa như “Áo lụa Hà Đông”, “Paris có gì lạ không em” hoặc “Tuổi mười ba” thì Ngô Thụy Miên định hình phong cách riêng.

Nếu như việc phổ nhạc cho thơ Nguyên Sa là mối duyên thơ – nhạc, thì cuộc tình với Đoàn Thanh Vân là mối duyên đời -nhạc của Ngô Thụy Miên. Những xao xuyến lứa đôi đã làm thăng hoa âm nhạc Ngô Thụy Miên, mà ca khúc “Mắt biếc” ông viết tặng người yêu được đón nhận nồng nhiệt ngay từ khi ra đời. Đầu thập niên 70 của thế kỷ trước, Ngô Thụy Miên trở thành một hiện tượng được giới trẻ đô thị hâm mộ, và cũng nhận được không ít lời khen tặng của các nhạc sĩ đàn anh như Phạm Duy, Hoàng Thi Thơ, Anh Bằng…

Năm 1973, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên và Đoàn Thanh Vân đính hôn. Đám cưới của họ dự định sẽ tổ chức sau khi Đoàn Thanh Vân tốt nghiệp đại học. Thế nhưng, sự kiện 30/4/1975 đã thay đổi nhiều điều. Đoàn Thanh Vân theo cha mẹ di cư sang Mỹ, mà không kịp nói lời giã biệt vị hôn thê. Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên thổ lộ: “Một sáng tác mà tôi rất yêu quí, có mang một chút hình ảnh thời sự, đó là bài “Em còn nhớ mùa xuân”. Đó là tình khúc duy nhất tôi đã viết ở Sài Gòn sau tháng 4/1975 trong nỗi nhớ một người bạn gái đã ra đi, và giữa những biến chuyển xẩy ra quanh mình trong những ngày tháng đó. Bản nhạc nhắc đến những kỷ niệm đẹp của chúng tôi trong bối cảnh của một thời thơ mộng”.

Ca khúc “Em còn nhớ mùa xuân” được nhiều ca sĩ trình diễn ở hải ngoại, rồi sau đó lại tiếp tục chinh phục người yêu nhạc trong nước: “Những thành phố em sẽ đi qua/ Đây Paris, đây Luân Đôn, đây Vienne/ Nhưng có đâu bằng Sàigòn hôm qua/ Nhưng có đâu bằng Sài Gòn mai sau/ Em có mơ ngày hát câu hồi hương”.

Khi chắc chắn người yêu đã không thể “hát câu hồi hương” như mình hy vọng, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đã vượt đại dương để đi tìm người phụ nữ đã cùng mình ước thề. Ở nước Mỹ mênh mông, họ cũng đã tìm được nhau. Năm 1979, Ngô Thụy Miên và Đoàn Thanh Vân tổ chức lễ cưới tại bang California. Trùng phùng hạnh phúc sau cách biệt bẽ bàng, Ngô Thụy Miên đã viết ca khúc “Em về mùa thu” đánh dấu ngày nên duyên chồng vợ: “Ô hay mùa thu lại về cho mình giăng hẹn hò/ Gọi tên nhau khi chiều đến/ Mây thu vấn vương đan ngập lối đi/ Ái ân theo hồn vút cao/ Vết mơ tình xõa tay mềm”.

Chuỗi ngày hòa nhập nơi đất khách cũng đầy gian nan. Ngô Thụy Miên không muốn dính líu vào các hoạt động biểu diễn trên sân khấu, nên chọn cách đi làm công nhân như một người Việt bình thường mưu sinh xứ người. Vợ chồng Ngô Thụy Miên dọn đến thành phố Olympia của bang Wasington để sinh sống với không ít muộn phiền và lo toan. Tình yêu và âm nhạc đã níu giữ họ giữa nhiều xáo trộn bủa vây, mà ca khúc “Bản tình ca cho em” là ví dụ tiêu biểu: “Anh hát cho em bài tình ca thiết tha/ Anh hát cho em dù lòng nghe xót xa/ Một lần gặp gỡ đã là bao thương nhớ/ Thương dáng em cười nhớ nụ mắt bờ môi…/Anh chúc cho em đời yên vui đắm say/ Anh chúc cho em dù lòng nghe đắng cay/ Một ngày nào đó dẫu tình ta đã lỡ/ Một ngày nào đó ta vẫn yêu mãi người thôi”.

Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên đứng ngoài thị phi show biz. Ông bộc bạch: “Tôi đến với âm nhạc như một sự tự nhiên, không hề có tham vọng gì. Những sáng tác của tôi đều được cẩn trọng, chăm sóc từ lời ca đến ý nhạc. Những năm tháng học nhạc cổ điển Tây phương đã giúp tôi rất nhiều trong việc sáng tạo, chọn lựa cũng như trau chuốt, làm đẹp câu nhạc. Đã có những bài tôi để cả năm trời chỉ để viết đi, viết lại những giai điệu mà mình chưa vừa ý! Nói về lời ca, thì có lẽ nhờ trưởng thành giữa văn thơ và sách vở tôi đã được đọc rất nhiều. Đọc nhiều nó thấm vào người lúc nào không biết. Rồi khi trái tim rung động thì lời ca tự nhiên sẽ đến”.

Nhìn vào số lượng ca khúc của Ngô Thụy Miên phổ biến sâu rộng trong đời sống, ai cũng ngỡ ông sáng tác rất nhiều. Thực tế, Ngô Thụy Miên sáng tác rất ít. Có khi vài ba năm ông mới có cảm hứng để viết một ca khúc. Và quan trọng hơn là có nhiều ca khúc ra đời mà Ngô Thụy Miên cũng không có ý định công bố. Chẳng hạn, ca khúc “Riêng một góc trời” chỉ được Ngô Thụy Miên hát cho vợ suốt nhiều năm, sau đó ca sĩ Tuấn Ngọc mới đến tận nhà để xin được thu âm và lan tỏa cực nhanh vào công chúng: “Tình yêu như nắng, nắng đưa em về, bên dòng suối mơ/ Nhẹ vương theo gió, gió mang câu thề, xa rời chốn xưa/ Tình như lá úa, rơi buồn, trong nỗi nhớ/ Mưa vẫn mưa rơi, mây vẫn mây trôi, hắt hiu tình tôi…”.

Tính toán chi li, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên tự tổng kết ông viết được hơn 60 ca khúc. Vì sao như vậy? Ngô Thụy Miên cạn kiệt cảm hứng chăng? Nhạc sĩ Ngô Thụy Miên bảo ông không muốn viết những điều quá hiu hắt từ tâm trạng mình: “Với tôi, âm nhạc cũng như đời sống đều thay đổi theo thời gian và không gian. Sống ở quê nhà với những thân yêu quanh mình, với những lụa là mưa nắng Sài Gòn, những quán hàng, những con đường quen thuộc từng dấu chân, từng buổi sáng, buổi chiều… tất cả đã cho tôi những ý nhạc nhẹ nhàng, trong sáng, những lời ca thơ mộng, dịu dàng. Ở Mỹ, người ta thật vội vã, thật xa lạ… Những thành phố, nhà cửa thật to lớn nhưng cũng thật lạnh lẽo. Ngày tháng bên này đã để lại trong âm nhạc của tôi những dấu vết buồn bã của cuộc sống tạm dung, những muộn phiền cay đắng của những phần đời lặng lẽ quanh mình…”.

Ca khúc “Mưa trên cuộc tình tôi” viết khi nhạc sĩ Ngô Thụy Miên bước qua tuổi lục thập ít nhiều chứng minh điều ấy: “Tôi vẫn ngồi lặng ngắm mây trôi/ Mưa ngoài trời như bụi rơi/ Chỉ là phù du những tháng ngày vui/ Bên phím đàn tôi nghe hồn buông lơi”. Bây giờ, ở tuổi 72, nhạc sĩ Ngô Thụy Miên vẫn sống êm đềm bên người vợ thủy chung Đoàn Thanh Vân. Họ hiếm muộn con cái, nhưng đi đâu cũng có nhau. Thỉnh thoảng họ cùng hát lại những ca khúc một thời thanh xuân của mình để vỗ về cuộc tình trăm năm.

(Theo Nhạc Xưa)

Saturday, April 24, 2021

"Chim Sợ Cành Cong"

 * Nhân nói chuyện với bạn và nhắc đến thành ngữ này...

Chuyện kể rằng, ở dải đất Trung Nguyên xưa, vào thời Chiến Quốc có một cung thủ thiện xạ nổi danh khắp thiên hạ tên là Đại Lỗi…

Một ngày nọ, Đại Lỗi đang tháp tùng vua nước Ngụy đi săn trên thảo nguyên thì cả hai tình cờ phát hiện một con ngỗng trời đang bay phía trên đầu. Đại Lỗi nói:

– Bẩm bệ hạ, thần không cần tên, thần chỉ cần giương cây cung không mà bắn là con chim này sẽ rơi xuống và chết.

Vua nước Ngụy nói:

– Khanh có thể làm được thật chứ?

Đại Lỗi nói:

– Bẩm, thần có thể.

Nói dứt lời, Đại Lỗi bèn giương cung của ông ta lên, kéo căng dây nhắm vào con chim đang bay và giả vờ bắn “pạch” – tiếng dây cung khô khốc vang lên, lập tức con chim lớn lảo đảo rồi rơi xuống đất ngay trước mặt nhà vua.

Ngụy Vương kinh ngạc thốt lên:

– Thật tài tình! Khanh đã không dùng đến tên, làm thế nào mà con chim đó lại có thể chết vậy?

Đại Lỗi nói:

– Bẩm bệ hạ, bởi vì đây là một con chim đã bị thương.

Vua liền hỏi:

– Làm sao mà khanh biết được điều đó?

Đại Lỗi đáp:

– Thần thấy con ngỗng hoang này bay khá chậm và tiếng kêu của nó thật thảm thương; bay chậm là vì nó đã bị thương bởi một mũi tên trước đó, còn âm thanh thê lương của nó nói cho thần biết được rằng nó đang sợ hãi vì đã bị tách khỏi đàn. Bởi vậy khi nó nghe thấy tiếng dây cung bật, nó trở nên hoảng sợ và cố gắng bay cao hơn, vết thương cũ của nó bị toác ra, cộng thêm sợ hãi và kiệt sức nên nó rơi xuống đất.

Kể từ đó, người ta thường sử dụng thành ngữ “Kinh cung chi điểu” hay một thành ngữ biến thể khác là: “Chim sợ cành cong” để mô tả người đã từng gặp những tình huống bị tổn thương và làm cho sợ hãi thì thường sẽ trở nên hoảng sợ hay nghi hoặc khi gặp phải một tình huống, hoàn cảnh tương tự (mà trước đó đã từng xảy ra). Ngạn ngữ Phương Đông có câu: “Một lần bị rắn cắn, mười năm sợ dây thừng” cũng là nhằm chỉ ý này.

Trong “Thế thuyết tân ngữ” cũng có kể một câu chuyện tương tự, liên quan đến việc: “Sợ bóng sợ gió” như sau:

Vị cận thần tên Mãn Phấn của Tấn Vũ Đế rất sợ lạnh, đặc biệt là cái lạnh giá thấu xương của gió đông. Có một lần vừa lúc anh ta vào cung tiếp kiến Vũ Đế thì nhìn thấy cảnh gió thổi tuyết rơi bên ngoài cửa sổ. Dù biết rõ cửa sổ nơi bảo điện rất dày, sẽ không bị gió tuyết lùa vào, nhưng Mãn Phấn vẫn không khỏi rùng mình sợ lạnh.

Vũ Đế thấy vậy liền cười anh ta, Mãn Phấn xấu hổ trả lời: “Thần giống như trâu nước Ngô, chỉ cần thấy ánh trăng là thở hồng hộc ngay”.

Trâu nước Ngô vốn sinh sống ở lưu vực sông Hoài và sông Trường Giang, loài trâu này sinh ra vốn đã sợ nóng, cho nên vào mùa hè thích ngâm mình trong dòng nước mát mẻ; nó chỉ cần thấy mặt trời thì toàn thân sẽ nóng lên, liên tục thở gấp; bởi vậy mà ngay cả đôi khi nhìn thấy ánh trăng trong đêm chúng cũng lầm tưởng là mặt trời, thân nhiệt lại tăng cao, hoảng sợ đến nỗi thở hồng hộc.

Từ hiện tượng “Ngô ngưu suyễn nguyệt” (Trâu nước Ngô nhìn thấy trăng liền thở hổn hển) mà dân gian mới truyền tụng nên câu thành ngữ: “Sợ bóng sợ gió” dùng để ví von về sự việc: con người ta khi nhìn thấy một cái gì đó tương tự thứ mà bản thân từng sợ hãi thì cũng sẽ nảy sinh nỗi kinh sợ lớn trong lòng.

Friday, April 23, 2021

Ngày Trái Đất

Ngày trái đất là ngày gì?

Ngày Trái Đất là ngày để nâng cao nhận thức và giá trị của môi trường tự nhiên, của Trái Đất với con người. Ngày Trái Đất được khởi xướng bởi thượng nghị sĩ Hoa Kỳ Gaylord Nelson với hình thức như một cuộc hội thảo về môi trường được tổ chức lần đầu tiên vào 22 tháng 4 năm 1970. Ngày Trái Đất giờ đây được điều phối toàn cầu bởi Mạng Ngày Trái Đất (Earth Day Network) và được tổ chức hằng năm tại hơn 192 quốc gia

Nguồn gốc của ngày Trái Đất

Ngày Trái Đất được đề xuất lần đầu ở Mỹ năm 1970 và cho đến năm 2009 đã được Liên Hợp Quốc công nhận là một ngày lễ Quốc tế. Trên thực tế, đã từng có 2 ngày Trái Đất được tôn vinh trong cùng năm 1970. Ngày Trái Đất đầu tiên là ngày 21/3/1970 do ông John McConnell là người đề xướng. Thành phố San Francisco của Mỹ đã hưởng ứng ngày này và sau đó Tổng Thư ký Liên Hiệp quốc - U Thant đã công bố đó là ngày Trái đất Quốc tế. 

Ngày Trái Đất thứ hai do ông Gaylord Nelson, nguyên thượng nghị sĩ Đảng Dân chủ bang Wisconsin (Mỹ) phát động vào ngày 22/4/1970 với 20 triệu người tham gia. Nelson là người ủng hộ công cuộc bảo vệ môi trường tự nhiên và được biết đến như một trong những nhà lãnh đạo về môi trường đầu tiên trên thế giới. Ông đã truyền bá ý tưởng về ngày Trái Đất trong chuyến đi của ông đến Santa Barbara Channel ngay sau sự cố tràn dầu khủng khiếp ngoài khơi năm 1969.

Nguồn gốc tên gọi Ngày Trái Đất

Theo thượng nghị sĩ Nelson, tên gọi "Ngày Trái Đất" chính là "một tên gọi hiển nhiên và hợp lý" được đề xuất bởi "một số người" vào mùa thu 1969, bao gồm, ông viết, cả "một người bạn của tôi làm việc trong lĩnh vực quan hệ công chúng" và "một advertising executive ở New York", Julian Koenig. Koenig, một thành viên trong uỷ ban tổ chức của Nelson năm 1969, nói rằng ý tưởng này đến với ông do ngày sinh nhật ông trùng với ngày được chọn, 22 tháng 4; "Earth Day" vần với "birthday" (ngày sinh), một mối liên hệ tự nhiên. Một số tên gọi khác được sử dụng trong quá trình chuẩn bị - chính Nelson vẫn tiếp tục gọi nó là Hội thảo Quốc gia về Môi trường tuy nhiên báo chí đã thống nhất cách gọi "Ngày Trái Đất".

Sáng nay 22/4, Google Doodle đã chia sẻ video để tôn vinh ngày Trái đất - Earth Day 2021



Monday, February 22, 2021

Truyền Thuyết Về Thần Tài

LTS: Hôm nay (mùng 10) thấy báo đăng khắp nơi mua cá lóc cúng Thần Tài. Việc cúng Thần Tài vào mùng 10 Tết, thì tôi đã biết từ lâu (thú thiệt là năm nào, vào mùng 10 cũng đi mua 1-2 chỉ vàng... tặng Mẹ, giờ tuy Mẹ mất vẫn còn giữ thói quen này :) ), còn vì sao ăn/cúng cá lóc thì mới nghe gần đây. Tò mò, nên đi tìm thông tin. Tuy nhiên, thông tin về việc ăn cá lóc thì không thấy (hihi), nhưng lại đọc được nhiều truyền thuyết về Thần Tài. Dịch và tổng hợp lại để lên blog coi như lưu lại để dành!


Thần tài – tiếng Hoa là Cái-shén, bao gồm hai ký tự: cái (財), nghĩa là “tiền” hoặc “của cải” và shén (神), nghĩa là “thần”. 

Trong truyền thuyết dân gian Trung Quốc, thật ra có đến hai vị thần tài, một vị là quan văn, một vị là quan võ. Vị thần tài quan văn tên là Tỉ Can, vị thần tài quan võ là Triệu Công Minh.

Chuyện về Tỉ Can có tim bảy lỗ, bị vua Trụ nghe lời Đắc Kỷ giết thì ai cũng biết nên không kể chi tiết. Theo truyền thuyết thì trước khi chết, Tỉ Can đã mang tài sản ra phân phát cho dân. Dân chúng tôn ông làm thần tài, đời đời khói hương thờ phụng.

Vị thần tài quan võ Triệu Công Minh cũng là một nhân vật trong Phong Thần Diễn Nghĩa. Theo đó, ông dùng phép thuật của mình để hỗ trợ triều đại nhà Thương. Khương Tử Nha, theo phò nhà Chu, đã làm một đã làm một hình nộm Triệu Công Minh bằng rơm, sau 20 ngày niệm chú, Khương Tử Nha cho người bắn một mũi tên làm bằng gỗ xoan đào xuyên qua tâm hình nộm. Đúng lúc đó Triệu Công Minh bị ốm và chết. Về sau, trong một lần đến thăm đền thờ Nguyên Thỉ Thiên Tôn (đệ tử của Lão Tử trong Phong Thần Diễn Nghĩa), Khương Tử Nha đã bị vị thần này quở trách vì gây ra cái chết cho một người trung hậu. Theo lệnh, Khương Tử Nha khiêng xác chết vào đền thờ, xin lỗi về hành vi sai trái của mình, tán dương đức tính của Triệu Công Minh, và nhân danh Nguyên Thỉ Thiên Tôn phong cho Triệu Công Minh là Kim Long Như Ý Chính Nhất Long Hổ Huyền Đàn Chân Quân, là Nguyên Soái thống lãnh bốn vị tiên:

Chiêu Bảo Thiên Tôn Tiêu Thăng

Nạp Trân Thiên Tôn Tấn Bảo

Chiêu Tài Sứ Giả Đặng Cửu Công

Lợi Thị Tiên Quan Diêu Thiểu Tư.

Những vị này ban phước lộc và may mắn cho những người thương gia, kinh doanh buôn bán. Danh hiệu của bốn vị đem lại những điều tốt lành cho mọi người: Chiêu bảo ( gọi vật quí), Nạp trân ( thu vật báu), Chiêu tài ( gọi tiền về), Lợi thị (buôn bán có lời). Từ đó, dân gian tôn bốn vị tiên này cộng thêm thần thủ lãnh Triệu Công Minh là năm người, và gọi là Ngũ Lộ Tài Thần.

Người Trung Quốc và các tín đồ của phong thủy tôn thờ và sùng bái Thần Tài Triệu Công Minh hơn các vị thần của cải khác. Người dân thờ vị thần này không chỉ để cầu may mắn về của cải mà còn để được bảo vệ khỏi những vấn đề liên quan đến hao tài, tốn của. Hơn nữa, ai bị oan ức đến cầu cứu ông thì được giúp đỡ. Người đời cho rằng Thần Tài tốt bụng và từ bi đến mức sẽ đáp ứng bất kỳ lời cầu nguyện nào được cầu xin. Ông được ví như một viên ngọc ước, có thể biến mọi điều ước thành hiện thực (?!)

Mặc dù bản chất là nhân từ, Thần Tài Triệu Công Minh thường được thể hiện qua hình tượng một người có bộ râu rậm và khuôn mặt sạm đen, cầm một cây roi (trong các phiên bản xưa) hoặc một thỏi vàng (nguyên bảo 元寶), cưỡi trên một con hổ đen như một biểu tượng của quyền lực. 

Truyền thuyết cũng kể rằng ở Trung Quốc cổ đại, Đức Phật đã bổ nhiệm ông là Tài Bạch Tinh Quân, người cai quản việc phân phối của cải và vận may. Các công ty hay người buôn bán thường thờ một bức tượng ông để cầu được phát đạt, giàu có, được nhiều tài lộc.

Vào mỗi dịp Tết âm lịch, Thần Tài từ trên trời xuống phù hộ cho dân chúng. Nhiều gia đình cúng Thần Tài vào sáng sớm, bằng cách dâng hương và mời Thần Tài vào nhà. Người Trung Quốc vào ngày cúng Thần Tài thường ăn hoành thánh, vì chúng được cho là giống với những thỏi vàng (nguyên bảo 元寶) xưa. 

Trong những thông tin tôi đọc được, không thấy nhắc đến việc cúng Thần Tài vào mùng 10 tháng giêng, cũng như việc cúng cá lóc. Theo báo Tuổi Trẻ, cá lóc có đặc tính nhảy vọt, việc cúng cá lóc trong ngày vía Thần Tài sẽ mang lại một năm mới phấn khởi hơn trong việc kinh doanh thêm tài lộc, sung túc và nhiều may mắn (?!). Theo tôi, có lẽ, việc cúng này khi du nhập vào Việt Nam, tín ngưỡng cũng đã thay đổi cho phù hợp với truyền thống văn hóa của người Nam Bộ, và cá nhân tôi thấy, có vẻ như ăn hoành thánh thì thuyết phục hơn là ăn cá lóc, ngoài việc hoành thánh nhìn giống thỏi vàng (như trên có nói), còn do người dân (đặc biệt là dân miền Tây), thường cho rằng cá lóc chui trong hang hốc, thêm với cái tên lóc, gợi nghĩ đến từ “lăn lóc” không mấy gì sung túc hay giàu sang!

21.02.2021 (Mùng 10/1)




Tuesday, May 27, 2014

Viết tiếp bài Uy Nhĩ Tư

Hôm trước chỉ nhắc đến cái tên "Uy Nhĩ Tư" mà (cố tình) không nói nó là nước nào. Chắc hẳn ai cũng biết, đó là tên gọi theo tiếng Hán của xứ Wales.

Hôm qua đọc báo, "lụm" được trang này, scan để lên đây, vừa để dành nhớ, vừa chia sẻ với bạn bè.



Sunday, March 9, 2014

FIR là gì?

FIR là chữ viết tắt của “Flight Information Region”, là “Vùng Thông tin bay” hay “Vùng Thông báo hướng dẫn bay”, một thuật ngữ hàng không dùng để mô tả một không gian khí quyển với những kích thước được xác định cụ thể mà máy bay qua vùng đó được cung cấp dịch vụ thông tin bay và dịch vụ báo động khi cần thiết.

Đây là một phân chia không gian khí quyển lớn nhất được sử dụng hiện nay trên thế giới. Dịch vụ thông tin và dịch vụ báo động là những mức dịch vụ cơ bản cho máy bay nhằm cung cấp những thông tin cần thiết cho việc điều hành những chuyến bay một cách an toàn và hiệu quả, cũng như để báo động cho các cơ quan có trách nhiệm khi một máy bay cần cứu trợ hay bị tai nạn để tìm kiếm cứu nạn.

Ngày nay bất cứ một phần không gian nào của bầu khí quyển cũng được phân định thuộc về một FIR cụ thể. Trong một số trường hợp, không gian khí quyển của nhiều nước nhỏ được gộp trong một FIR, mặt khác không gian khí quyển của những nước lớn lại được chia nhỏ ra nhiều FIR.

Không gian khí quyển trên đại dương được chia ra những “Vùng Thông tin Đại dương” (Oceanic Information Region) và được giao cho các đơn vị có trách nhiệm kiểm soát không gian khí quyển trên mặt đất vùng kế cận.

Sự phân chia trách nhiệm giữa các đơn vị FIR này là do thỏa thuận quốc tế thông qua ICAO, Tổ chức Hàng không Dân dụng Quốc tế (International Civil Aviation
Organization).

Không có một tiêu chuẩn nào về kích cỡ của FIR, mà chỉ do thuận tiện về quản lý của các nước liên hệ. FIR mang tên của Trung tâm Thông tin bay hay Trung tâm Quản lý bay (Flight Information Center) chính của vùng chứ không mang tên quốc gia và do đó không mang ý nghĩa về chủ quyền quốc gia cả.

FIR Hồ Chí Minh hiện nay bao gồm cả vùng hải phận quốc tế cũng như cả một phần vùng trời Lào và một phần vùng trời Campuchia.

FIR Hồng Kông và FIR Hồ Chí Minh chia nhau trách nhiệm không gian khí quyển trên một phần của Biển Đông.

FIR Bangkok chịu trách nhiệm vùng trời Campuchia và vùng trời trên biển phía Nam nước ta.

Các trung tâm thông tin bay hay trung tâm điều hành quản lý bay vùng FIR phải đủ điều kiện chứng tỏ khả năng quản lý, hướng dẫn, thông báo trên khu vực của mình đối với các hãng hàng không trên thế giới và được ICAO hỗ trợ đào tạo, tài trợ, v.v.

Nếu vì lý do nào đó, mà một FIR không đảm nhiệm được vai trò của mình thì ICAO sẽ mở rộng phạm vi trách nhiệm của FIR lân cận.

Các máy bay bay qua không phận của quốc gia nào thì phải trả tiền cho quốc gia đó theo thỏa thuận hợp tác của các bên với quốc gia có chủ quyền không phận đó. Vì vậy FIR không mang ý nghĩa về chủ quyền và không phận quốc gia.

(Theo PGS. TS Nguyễn Thiện Tống, nguyên CN bộ môn Kỹ Thuật Hàng Không, DHBK TP. HCM)

* Thông tin này được đăng trên Tiền Phong, tháng 12/2009.

Hôm nay (8/3/2014) đọc được thông tin giống y vậy, có cắt bớt vài đoạn, theo tui là quan trọng, trên báo Thanh Niên, ký tên Trung Hiếu.

Ta nói, cái gì cũng hôi được)

Saturday, February 8, 2014

Năm Ngọ nói chuyện về Ngựa trong Harry Potter

BẠCH KỲ MÃ

(Ảnh: Nguồn deviantart)

Theo thứ tự xuất hiện trong sách, đầu tiên phải nhắc đến là con Bạch Kỳ Mã. Bạch Kỳ Mã xuất hiện trong quyển 1 - Hòn Đá Phù thủy và quyển 4 - Chiếc Cốc Lửa.

Bạch Kỳ Mã sống trong Khu Rừng Cấm của trường Hogwarts. Chúng là những sinh vật đầy mãnh lực rất huyền bí. Không dễ gì bắt được một con bạch kỳ mã, bởi chúng di chuyển rất nhanh nhẹn, nhanh hơn cả người sói.

Bạch Kỳ Mã là một con vật đẹp và buồn. Chân nó dài, thon thả, móng guốc vàng, bờm màu trắng ngọc trai, máu màu xanh bạc. Lông đuôi của nó dùng để chế tạo đũa phép. Sừng và lông đuôi còn thường được dùng trong môn Độc Dược.

Bạch Kỳ Mã con chỉ tuyền bằng vàng ròng. Chúng đổi thành màu bạc khi được khoảng hai năm tuổi, và khi lớn tới bốn tuổi thì mọc sừng. Khi nào hoàn toàn trưởng thành thì chúng mới có lớp lông trắng tuyền, lúc đó chúng khoảng bảy tuổi.

Có khá nhiều nhân vật trong Harry Potter có đũa phép làm bằng lông Bạch Kỳ Mã. Cả hai cây đũa phép của Ron đều có lõi là lông đuôi Bạch Kỳ Mã, đũa của Malfoy, Cedric, Neville cũng làm bằng lông đuôi Bạch Kỳ Mã.

Một đoạn trích:

“Firenze nói: Bởi vì giết một con bạch kỳ mã là một việc cực kỳ dã man. Chỉ kẻ nào không còn gì để mất, và muốn dành tất cả, mới phạm một tội ác như vậy. Máu của kỳ mã sẽ giúp kẻ đó giữ được mạng sống, dù cái chết đã cận kề trong gan tấc. Nhưng mà kẻ đó sẽ sống bằng một cái giá khủng khiếp. Hắn giết một sinh vật tinh khiết không có khả năng tự vệ, chỉ để giữ lấy mạng sống của mình, nhưng hắn cũng chỉ có thể sống dở – một kiếp sống bị nguyền rủa, kể từ lúc môi hắn chạm vào dòng máu bạch kỳ mã” ( Chương 15 – Khu rừng cấm, Quyển 1 – Harry Potter và Hòn Đá Phù Thủy)


Trong nhiều câu truyện cổ tích châu Âu, Bạch Kỳ Mã là một sinh vật huyền thoại. Người phương Tây hay gọi là kỳ lân (unicorn) [Kỳ lân này không giống như con nghê - kỳ lân trong thần thoại phương Đông].  Từ Unicorn xuất phát từ tiếng Do Thái: re’em có nghĩa là sừng, dịch ra tiếng Latin là monoceros nghĩa là một sừng, từ đó chuyển thành chữ unicorn trong tiếng Anh. [Unicorn không phải là Pegasus].

Trong số những sinh vật bước ra từ truyền thuyết, không có sinh vật nào mà hình ảnh của chúng xuất hiện nhiều như Bạch Kỳ Mã (hay Kỳ Lân). Huyền thoại Bạch Kỳ Mã thịnh hành nhất vào thời Trung Cổ (khoảng thế kỷ thứ 9).

Bạch Kỳ Mã được miêu tả như những sinh vật giống ngựa, mình thon gọn với chiếc sừng xoắn trên trán toả sáng lấp lánh. Theo như truyền thuyết thì Unicorn là một sinh vật kiên cường, không biết sợ hãi, nhanh nhẹn và mạnh mẽ. Lòng dũng cảm của nó thách thức tất cả những người thợ săn gan dạ nhất đuổi theo và sự nhanh nhẹn của nó khiến họ luôn luôn thất bại. Là những sinh vật của ánh sáng và nước nên Unicorn có khả năng thanh tẩy tà ma và chữa được bá bệnh. Người ta bảo rằng sừng của nó có phép thần thông, ngừa được bất cứ chất độc nào.

Trong huyền thoại, chỉ có người con gái thật trong trắng mới có thể đến gần và thuần hóa con Bạch Kỳ Mã. Trong thời kỳ trung đại, có một truyền thuyết kể về Unicorn, khi nó cảm động trước tấm lòng của Đức Mẹ Đồng trinh và đã chạy đến thăm bà, ngoan ngoãn tựa đầu vào lòng bà. 

Chủ bút của tờ Marco Polo, Colonel Yule, khẳng định rằng Unicorn bị thu hút bời vẻ đẹp tâm hồn hoặc sự trinh tiết, lòng trinh bạch, cũng có thể bởi hương thơm từ chiếc váy của Đức Mẹ. Vẫn có những đồn đại khắp Châu Âu kể rằng không thể bắt được Bạch Kỳ Mã bằng vũ lực, chỉ có cách bắt giữ một cô gái đồng trinh để cô ấy ngồi đợi một mình ở một nơi hẻo lánh và ngựa một sừng sẽ biết được và tìm đến đó. Khi nhìn thấy người trinh nữ, Bạch Kỳ Mã sẽ chạy lại và tựa đầu của nó vào lòng cô gái.

08.02.2014

Wednesday, December 25, 2013

Màu Giáng Sinh

Mấy đứa bạn nói “Năm nay màu của Giáng Sinh là màu tím”. Tôi lắc đầu: “Chài, làm gì có vụ đổi màu, họa chăng là mấy công ty và mấy đứa làm quảng cáo bày trò PR cho thương hiệu thôi”. Tụi nó cãi: “Sao thấy ở Vincom trang trí màu tím nè. Trên mạng xã hội cũng thấy người ta kháo nhau “trước kia Giáng Sinh là màu tím””. Tôi cười: “Bị lừa rồi cưng. Cái màu tím ở Vincom là do thằng tã giấy em bé Bobby Fresh nhuộm, còn vụ “trước kia giáng sinh màu tím” tràn lan trên mạng là do thằng Viber làm”. Tụi bạn hỏi: “Vậy chứ màu của Giáng Sinh là màu gì?”.

Màu của giáng sinh là màu gì ư?

Có khá nhiều màu đặc trưng cho mùa Giáng Sinh. Phần lớn màu sắc và ý nghĩa đều bắt nguồn từ phong tục tập quán của các nước châu Âu.

MÀU XANH LÁ

Đầu tiên có thể kể đến là màu xanh lá – màu của cây thông Giáng Sinh, màu của vòng hoa người ta vẫn treo trên cửa, màu của những đồ vật trang trí được dùng để trang hoàng cho ngày lễ hội ở khắp mọi nơi.

Màu xanh đã được dùng làm màu chủ đạo của Giáng Sinh hàng ngàn năm nay. Nó nhắc người ta nhớ rằng, rồi màu xanh ấm áp của mùa Xuân sẽ đến, những giá rét lạnh lùng của mùa Đông không là mãi mãi.

Màu xanh được người La Mã xem là màu của sự may mắn

MÀU ĐỎ

Trong Kinh Thánh ngày xưa, người ta vẽ cây thiên đàng ở vườn địa đàng có hình dạng một cây thông (đó cũng là lý do vì sao người ta trang hoàng cây thông vào ngày Giáng Sinh), trên cây là những quả táo đỏ (nhớ chuyện Adam Eva hihihi).

Người ta cũng cho rằng màu đỏ là màu của những quả dâu đo đỏ nho nhỏ, xem như một biểu trưng cho những giọt máu của Chúa Giêsu khi Ngài bị đóng đinh trên thập tự.

Màu đỏ còn là màu áo choàng của các linh mục. Nhưng không phải màu áo của ông già Noel hihi... Còn vì sao áo của ông già Noel là màu đỏ thì là chuyện khác, nói sau.

MÀU VÀNG (GOLD)

Màu vàng là màu của mặt trời và ánh sáng – hai màu tươi sáng quan trọng giữa mùa đông đen tối. Cả màu đỏ lẫn màu vàng là màu của ngọn lửa ấm áp sưởi ấm muôn loài xua tan giá rét.

Vàng cũng là màu của những món quà do một trong những nhà thông thái dâng tặng Chúa Hài Đồng. Đó cũng là màu của ngôi sao dẫn đường.

MÀU TRẮNG

Màu trắng là màu tượng trưng cho sự tinh khiết và thanh bình của văn hóa phương Tây. Những hạt tuyết mùa đông mang một màu trắng tinh.

Màu trắng cũng là màu của bánh thánh mà tín đồ nhận lại sau mỗi Thánh Lễ, như được hưởng một phần "mình Thánh Chúa" để tưởng nhớ cái chết vì nhân loại của Chúa Giêsu (“Bánh Ta sẽ ban, chính là Thịt Ta, để cho thế gian được sống”)

Trong hầu hết các nhà thờ trong suốt dịp lễ Giáng Sinh bàn thờ Chúa được phủ khăn trắng.

MÀU XANH DƯƠNG

Màu xanh dương là biểu trưng của Đức Mẹ Đồng Trinh Mary. Thời Trung cổ, trang phục xanh chỉ được dùng cho hoàng tộc và các gia đình quý tộc. Đức Mẹ Đồng Trinh thường được tô màu xanh để thể hiện sự quan trọng của Bà.

Màu xanh dương còn là màu của bầu trời và thiên đường.

Thế còn MÀU TÍM thì sao? Màu tím là màu chủ đạo của mùa Vọng. Mùa Vọng diễn ra trong khoảng thời gian 4 tuần trước lễ Giáng Sinh, bắt đầu từ ngày Chủ nhật thứ tư trước Giáng sinh và chấm dứt vào đêm trước lễ Giáng sinh (đêm 24 tháng 12, lễ vọng Giáng sinh). Vào khoảng thời gian này, bàn thờ Chúa trong phần lớn nhà thờ được phủ khăn tím.

MÀU ÁO CỦA ÔNG GIÀ NOEL


Phía trên tôi có nhắc về màu đỏ của chiếc áo ông già Noel. Bạn tin hay không thì tùy, nhưng chiếc áo màu đỏ mà ông già Noel vẫn mặc như hiện nay ta vẫn thấy không bắt nguồn từ một truyền thuyết nào cả mà từ một chiến dịch quảng cáo của công ty Coca-Cola

Trước đó rất lâu, ông già Noel thường xuất hiện trong bộ quần áo đủ các thể loại màu sắc: xanh lá, tím, xanh dương nhạt, xanh biển, nâu hay đỏ. Thậm chí, người ta còn “cho” ông Noel mặc một bộ quần đủ sắc màu với quần màu xanh dương, áo ghi-lê màu vàng và áo khoác màu đỏ. Trong vài bức họa, ông mặc cả màu nâu, đen hoặc áo lông trắng.

Mọi việc thay đổi khi vào năm 1930, nhãn hàng Coca-Cola quyết định sử dụng hình ảnh ông già Noel trong chiến dịch quảng cáo mùa đông của mình. Thật ra, Coca-Cola đã sử dụng hình ảnh Santa Claus để quảng cáo cho sản phẩm nước giải khát của công ty họ từ những năm 1920. Nhưng đến năm 1930, khi họa sĩ người Mỹ Haddon Sundblom không rập khuôn theo hình ảnh những người lùn của những năm trước mà vẽ một ông già Noel trong dáng dấp con người trong bộ râu trắng, chiếc áo đỏ và thắt lưng đen.

Dễ thấy hình ảnh một ông già Noel vui tươi ấm áp  và độ lượng xuất hiện trong giai đoạn khủng hoảng trì trệ của những năm 30 giống như một làn gió mới thổi bùng lên những hy vọng, lạc quan mà người ta cần để vực dậy. Do vậy hình ảnh đó được đón nhận một cách mạnh mẽ. Cũng phải thừa nhận, chính nhờ vào sức lan tỏa sâu rộng của báo chí mà hình ảnh ông già Noel trở nên phổ biến cho đến tận bây giờ.

(Tổng hợp từ internet)

Wednesday, December 11, 2013

Từ của năm

Từ điển tiếng Anh Oxford chọn từ "selfie", tức 'chụp hình tự sướng', làm từ phổ biến nhất trong năm 2013. "Selfie" theo từ điển Oxford là "bức ảnh được tự chụp, thí dụ bằng điện thoại thông minh hay webcam và tải lên trên mạng xã hội".

Để được bình chọn là từ của năm, “selfie” đã đánh bại từ các “twerk” (kiểu nhảy kích dục do nữ ca sĩ trẻ Miley Cyrus thường biểu diễn), “showromming” (ra cửa hàng khảo giá sản phẩm rồi lên mạng mua với giá rẻ hơn) hay “bitcoin” (đồng tiền ảo)…

Các nghiên cứu cho thấy tần số sử dụng từ này trong tiếng Anh đã tăng 17.000% trong riêng năm ngoái.

Thông thường Oxford chọn từ của năm cho Mỹ và Anh riêng, nhưng từ “selfie” được đánh giá là mang tính phổ cập toàn cầu.

"Selfie" lần đầu tiên xuất hiện từ khoảng năm 2002 khi được sử dụng trên một diễn đàn mạng ở Australia, theo từ điển Oxford. Một người chụp hình các vết thương trên mặt mà ông ta bị khi vấp ngã và đăng trên mạng. Ông ta xin lỗi vì bức ảnh bị nhòe, nói rằng không phải ông ta say mà bởi đây là một bức hình tự chụp (selfie).

Năm nay, "selfie" đã nổ lên như một từ thông dụng trong thế giới nói tiếng Anh, một phần cũng nhờ những bức hình như Đức Giáo hoàng tự chụp ảnh cùng một đám thanh thiếu niên.

Judy Pearsall, trưởng ban biên tập của từ điển Oxford, nói: "Các website xã hội đã giúp làm từ này trở nên thông dụng hơn, từ khóa hashtag #selfie xuất hiện trên mạng chia sẻ hình ảnh Flickr từ năm 2004, nhưng cho tới năm 2012 từ này mới được dùng nhiều và dùng trên các phương tiện truyền thông chính thống".

"Selfie" được bổ sung vào từ điển Oxford trên mạng hồi tháng Tám, nhưng chưa có trong bản in tuy đang được cân nhắc.

(Tổng hợp)

(3 vị nguyên thủ quốc gia đang "selfie" :) )

Saturday, November 30, 2013

Vì Sao Là Gà Tây?

Vào ngày Lễ Tạ Ơn người ta thường hay ăn gà tây. Lý do vì sao gà tây lại được “vinh hạnh ghi danh” trong thực đơn của nhiều nhà vào những ngày cuối tháng 11 này dường như vẫn chưa thật sự được giải thích thỏa đáng.

Theo một số tài liệu lịch sử còn ghi lại, vào tháng 10 năm 1621, những người dân ở Plimoth (hay còn được đánh vần là Plymouth) đã tổ chức một lễ hội ăn mừng thu hoạch, đồng thời để tỏ lòng biết ơn một mùa vụ bội thu đã cung cấp lương thực dồi dào, giúp con người tiếp tục duy trì cuộc sống... với sự tham dự của 50 người Anh thực dân và khoảng 90 người Anh-điêng (người Mỹ bản địa Wampanoag mà bây giờ là tiểu bang Massachusetts).  Bữa ăn tối này, sau đó được xem là bữa tiệc Tạ Ơn đầu tiên trong lịch sử.

Trong buổi tiệc đấy, những người đến dự mang theo nhiều thực phẩm, có thể kể đến như ngỗng, gà tây và vài động vật hoang dã như hươu, nai... 

Thời điểm ban đầu, người ta thường sử dụng ngỗng nhiều hơn là gà tây. Tuy nhiên về sau, người ta nhận thấy, ngoài việc ngỗng rất khó nuôi, một phần nữa còn do gà tây rẻ hơn ngỗng. Giá cả là một yếu tố khá quan trọng vào những ngày này vì người ta phải chuẩn bị nhiều đồ ăn cho một bữa ăn đêm Giáng sinh, đôi khi là nhiều hơn một bữa, và gà tây là món ăn hợp lí nhất để ăn vào những ngày đầu đông bởi lẽ gà tây được sinh ra vào mùa xuân, được nuôi trong khoảng 7 tháng, và đến thời điểm lễ Tạ Ơn chúng đạt được trọng lượng lý tưởng khoảng 4,5kg.

Vào năm 1863, khi Tổng thống Mỹ Lincoln công bố ngày lễ Tạ ơn sẽ trở thành một ngày lễ quốc tế, thì gà tây bắt đầu được sử dụng như một món ăn chính vào ngày lễ Tạ ơn.

Một câu chuyện khác kể rằng, vào thế kỷ 16, trong buổi tiệc ăn mừng cuối vụ thu hoạch, nữ hoàng Elizabeth của Anh nhận được tin đoàn chiến thuyền của quân Tây Ban Nha bị đắm khi trên đường tấn công nước Anh. Để tỏ lòng biết ơn Chúa và ăn mừng tin tốt lành, nữ hoàng đã cho gọi thêm món ngỗng quay.

Cũng phải giải thích việc vì sao đó là ngỗng mà không phải là gà tây, bởi trước năm 1620, người Anh chưa hề biết đến gà tây, chỉ đến khi những đoàn di dân từ Anh sang Mỹ, họ mới biết đến gà tây. Nhà thám hiểm Sebastian Cabot được cho rằng là người đã đem gà Tây về nước Anh. Cũng có người nói rằng: một nhà buôn tên là William Strickland là người mang gà tây về Anh, ông đã nhập khẩu 6 chú gà tây đến Anh vào năm 1526 từ nước Mỹ. Tuy khí hậu ở Anh không thích hợp với loại gia cầm này nhưng với những yếu tố như đã nói ở trên, gà Tây bắt đầu trở thành món ăn phổ biến của người Anh kể từ thế kỉ 16.

Gà tây đã trở thành món ăn rất nổi tiếng, đặc biệt khi nó được nhà văn Anh Charles Dickens đưa vào tác phẩm kinh điển A Christmas Carol của ông được xuất bản năm 1843, tác phẩm được yêu thích trên khắp nước Mỹ và nhiều quốc gia trên thế giới.

Một vài con số lý thú: Theo thông tin đọc được trên trang National Geographic, ước tính có khoảng 254 triệu con gà tây được nuôi và giết mổ tại Mỹ trong năm 2012, tăng 2% so với năm 2011.Khoảng 46 triệu con gà tây được làm thịt trong ngày Lễ Tạ ơn hay người dân Mỹ đã tiêu thụ khoảng 334 triệu kg thịt gà tây trong ngày đặc biệt này.  ( Con số trên do Cục thống kê Nông nghiệp Quốc gia Mỹ công bố).

30.11.2013

(Dịch và tổng hợp từ nhiều nguồn)

Sunday, September 16, 2012

Cười chút chơi


(Lượm được trên Facbook, mang về nhà share cho bạn bè giải trí ngày cuối tuần)


 
;