Monday, December 23, 2019

Mắt Biếc Năm Xưa Nay Đâu

(Mượn 1 câu trong bài hát Mắt Biếc của Ngô Thụy Miên để viết về phim Mắt Biếc)

Hồi đó tôi thích Mắt Biếc. Đó là cái thời thiếu thốn sách đọc, đặc biệt là sách truyện dành cho tuổi mới lớn. Hồi đó, mấy đứa học sinh bọn tôi thường lén lút chuyền tay nhau những quyển truyện chép tay, viết về những mối tình học trò nhẹ nhàng, mơ mộng. Hồi đó, thỉnh thoảng giáo viên trường lại đi kiểm tra cặp, những quyển truyện chép tay được bọn tôi mang đi giấu dưới gầm bục giảng, bàn giáo viên, có khi bọn con trai nhét vội ở góc cửa sổ hay máng xối. Nên khi những “Cô gái đến từ hôm qua”, “Mắt biếc”, “Bất ngờ phía trái tim”, “Tình nhỏ làm quên” của nhà văn Nguyễn Ngọc Ánh, Đoàn Thạch Biền... ra mắt và được đọc một cách công khai, cả đám cùng giành nhau ngấu nghiến, đôi khi, cho dẫu nội dung không hay, không lôi cuốn bằng những quyển truyện chép tay. 

Tôi đã định không xem phim Mắt Biếc, như tôi đã từng đối với phim “Cô gái đến từ hôm qua”, tôi muốn giữ nguyên cảm xúc của mình đối với truyện, cho dù cũng đã hơn 20 năm. Nhưng... rồi ừ... đi xem...

Và sau 1 giờ 40 phút, tôi tự hỏi “Mắt Biếc tôi đã từng thích đây sao?”. Ngạn của ngày xưa sao chán thế. Hà Lan của ngày xưa sao vật chất vậy. Cái câu chuyện tình yêu thời mới lớn mơ màng, lãng mạn... xem phim xong bỗng nhiên thấy nhàn nhạt. Cảm xúc như từng mảnh vụn, lướt nhanh và hời hợt nổi trên bề mặt. Với một Ngạn quá hiền, quá ngu ngơ, quá nhút nhát (mà tôi nói vui với bạn mình rằng Ngạn là một tên ngu-hèn chứ không phải ngoan-hiền) như thế có thể chẳng Hà Lan nào dám gửi đời mình cho. Và với một Hà Lan mê vật chất, ít sâu sắc, thì rõ là đồng sàng dị mộng với Ngạn. 

Mắt Biếc là một phim đúng “chuẩn phim Việt Nam” (vốn luôn làm tôi ức chế khi xem).

Nào là thoại ngắt quãng 2 “Bà tôi.. nói... cuộc đời... Hà Lan... sau này... sẽ.. khổ” (tôi đã nghĩ vui, có thể do khi Ngạn tỏ tình với Hà Lan, hoặc khi Hà Lan bày tỏ tình cảm với Ngạn, tụi nó đã nói theo kiểu cắt câu ra từng 2 từ như thế này, thành ra mất sạch cảm xúc, nên 2 đứa mãi đi 2 đường). Ấy là chưa nói đến giọng của diễn viên, người nói giọng Huế, người nói giọng Nam, thậm chí nhân vật Trà Long, lúc thì giọng Nam, khi thì lơ lớ giọng Bắc, loạn cả lên.

Nào là không thể nào biết được bối cảnh phim diễn ra khi nào. Trong truyện tác giả có nhắc đến từ “đi quân dịch”, nghĩa là trước 1975. Vài chi tiết trong phim (ví dụ như cảnh banner quán bar chớp lóe đèn, cảnh chiếc xe đò, chiếc con bọ huyền thoại, chai xá xị con cọp BGI) cũng đã khiến tôi đoán là trước 1975, nhưng nhiều chi tiết kế tiếp làm tôi hoang mang, ví dụ, nếu trước 1975, khi mời khách ăn bánh tây, người ta chỉ đơn thuần nói: “Con ăn bánh tây đi”, chứ không như bà cô của Hà Lan, một người khá giả, trưng 1 nét mặt rất hãnh diện, nói với Ngạn: “Con ăn bánh đi, bánh tây hàng của Mỹ đó”. Người ta chỉ nói “hàng của Mỹ”, “hàng từ Mỹ” một cách hãnh diện vào những năm nghèo khó 78-80. Hoặc, lon sữa Guigoz với tem màu vàng, cái tem sẽ phủ toàn chiều dài của lon, chứ không chỉ chiếm một phần cái lon, và cho dù là vậy, nếu trước 1975 thì lon sẽ không bẩn và cũ (giống những chiếc lon bây giờ vài quán ăn phong cách xưa hay dùng cắm đũa muỗng) như chiếc lon sữa Ngạn mang cho Hà Lan.

Nào là sạn. Trước 75, học trò hẹn nhau chắc cũng chỉ hẹn xem phim, hoặc đi uống nước, chắc không hẹn nhau đi nhảy đầm hay vào quán bar. Vào quán bar, chắc người ta sẽ uống bia, chứ không uống sá xị. Ở quán bar, chắc dễ nhận thấy người ta bày bàn bida, ít khi thấy đùng đoàng 1 bàn banh bàn (banh lắc) ngay trung tâm. Trước 75, tôi lục tìm mấy tấm hình áo dài nữ (đặc biệt gái Huế) thấy họ thường mặc tà dài, hoặc cách tân lắm thì kiểu cổ lọ Trần Lệ Xuân, chứ có lẽ không phải mấy chiếc áo dài tà cũn cỡn, kiểu áo dài cách điệu những năm 2000 lẻ 10. Cũng như thế tôi đi tìm các kiểu áo đầm trước 75, không tìm được kiểu bông, kiểu màu của chiếc áo đầm Hà Lan mặc về làng. Trước 75, con gái mặc áo dài chạy xe đạp, tà áo trước chắc hẳn sẽ được các cô nắm một góc kéo lên phía tay cầm lái, chứ không gấp lại nhét trước bụng như những năm 90. Cũng có thể do tôi thiếu thông tin!

Mắt Biếc là một phim đầy tính kịch (không phải kịch tính - vốn làm tôi muốn cười dù nội dung nghiêm túc). Ví dụ như nói về cái nghèo thì trường lớp phải ọp ẹp, nhà phải nhà giậu phên liếp. Chữa hoang thì phải giấu trong 1 ngôi nhà tường nát cột xiêu, gián bò, đi thăm lén thì phải dáo dác, che mặt như điệp viên, nhìn trước ngó sau, mà ngặt nỗi không hiểu sao ngôi nhà mà người nhà Hà Lan thuê để giấu cô ấy lại ở ngay đầu một góc phố, phía trước là (hình như nhớ không lầm) quán nước. Hoặc sanh con thì phải la oe óe, bà đỡ thì phải xấu như phù thủy. Con đói thì phải khóc ngay đúng trời mưa, nhà hết gạo. Đập cửa đi xin gạo thì phải giữa khuya, nhà nào cũng không mở cửa. Hai người có tình ý thì phải bưng tô cháo lỡ chộp lấy tay nhau rồi rụt tay lại như bị bỏng. Một tiệm may, cho dù đắt khách lắm đi chăng nữa, chủ tiệm chắc cũng không phải chạy tới chạy lui như con thoi như trong phim. Buồn cười thêm có lẽ là cảnh Ngạn tay cầm 1 trái cóc, 1 cây que xỏ đúng 4 khoanh mía đứng chờ Hà Lan nơi cổng trường, nó khiên cưỡng và kịch phải biết!

Ờ, thì, công tâm mà nói, phim có vài cảnh quay đẹp, tuy không thật xuất sắc và thỏa mắt (mặc dù cảnh thực tế không như thế) như ở “Tôi thấy hoa vàng trên cỏ xanh” (cũng của đạo diễn Victor Vũ). Nhạc phim thì cũng có hay, nhưng khá là hiện đại, không hợp với bối cảnh bộ phim cho lắm, bên cạnh đó, cách phát âm của ca sĩ cũng có vấn đề khi mọi âm “tr” đều chuyển thành “ch”, khiến tôi thấy thật sốc lỗ tai!

Bạn tôi bảo: "Phim Việt Nam mà, phiên phiến đi". Hình như giá vé của phim Việt Nam đâu thấy khác phim nước ngoài, nên nếu phải lựa chọn giữa phim hay, làm nghiêm túc và phim thường thường thì không cần phải nói cũng rõ cái lựa chọn mà đa số sẽ chọn!

23.12.2019

Monday, September 9, 2019

Lan man

Hôm qua tôi đi xem kịch ở sân khấu 5B. Dễ cũng chừng hơn 20 năm rồi tôi mới ghé lại đây xem kịch. Khán phòng vẫn vậy. Vẫn cái sân khấu đơn sơ, diện tích khiêm tốn, như muốn lẫn cùng những chiếc ghế sắt cao dành cho khán giả, như chỉ cần bước chân xuống, đi vài bước thôi là có thể chạm đến diễn viên. 

Lần đầu tiên tôi xem kịch ở sân khấu 5B đâu đó vào những năm 90. Cái thời Dạ Cổ Hoài Lang với Thành Lộc, Việt Anh, Quốc Thảo, Hồng Vân... vừa mới diễn những xuất đầu tiên. Lúc đấy báo chí cũng còn nặng lòng với chính kịch lắm. Dễ dàng bắt gặp những cột báo viết về vở kịch trong mỗi sáng mở những tờ Tuổi Trẻ, Thanh Niên, Lao Động... Mẹ tôi muốn xem, dạo ấy vé (gì cũng) khó mua. Tôi nhờ hết các mối quan hệ cuối cùng cũng xoay được vài tấm vé. 5B lúc ấy mang tên gọi “sân khấu thể nghiệm”. Tôi vẫn còn nhớ cảm giác của một đứa ưa lượn lờ rạp hát như tôi, thật ngạc nhiên, thật thích thú khi bước chân vào khán phòng. Sân khấu không trên bục cao xa cách mà tưởng như ngay bên cạnh mình. Không micro, không cảnh trí lòe loẹt, không ghế dựa nệm, không màn nhung... Không khí gần gũi đến không ngờ. Khán giả như sống cùng câu chuyện, cảm cái cảm xúc của nhân vật... 

25 năm quay lại. Mọi thứ vẫn như cũ. Vẫn tường vôi cũ kỹ. Vẫn những tiếng vỗ tay mỗi khi kết thúc một phân đoạn. Vẫn những tiếng thút thít không thể giấu giữa khán phòng nhỏ, ấm cúng, không tiếng động của khán giả xung quanh ở những đoạn buồn... Có chăng, cái không khí nhộn nhịp một thời giờ không còn nữa... Những chiếc ghế trống buồn buồn... Không phải do trời mưa to, không phải do kịch bản không hay... Cô gái ngồi cạnh tôi khi chờ vào rạp, gặp lại sau buổi biểu diễn đã nói với tôi: “Kịch hay quá chị ạ. Lần đầu tiên em đi xem. Em không ngờ sân khấu gần gũi đến như vậy. Lúc nãy em khóc quá trời luôn”. Những người yêu kịch bây giờ cũng hiếm. Có phải vì vậy mà cứ sau mỗi buổi diễn, cả đạo diễn Việt Linh của sân khấu Hồng Hạc, hay đạo diễn-diễn viên Ái Như của sân khấu Hoàng Thái Thanh, hay nghệ sĩ Mỹ Uyên của sân khấu 5B, nghệ sĩ Thành Lộc của Idecaf... đều lặp đi lặp lại lời cảm ơn, tri ân khán giả đã không quay lưng lại với kịch... 

Tôi nhớ bàn tay quệt những giọt nước mắt đang dàn dụa của nghệ sĩ Mỹ Uyên, và giọng run run nức nở: “Cảm ơn khán giả đã không ngại trời mưa cố gắng đến xem buổi diễn”.

Tôi tin giọt nước mắt của cô không là kịch!

9.9.2019


 
;